Sen!
Đã lâu rồi tôi không trở về thăm quê! Cái làng quê mà đất và cát quần nhau thành một thứ bột mịn trắng lành, thứ bột của ngô của khoai sắn và của lạc, dấu tích của một thời có biển. Mọi thứ vẫn chẳng thay đổi gì, chỉ có con người là thay đổi. Tôi đã lớn, không còn là tôi của bé thơ, đã đi qua những buồn vui của cuộc đời, tuy chưa đủ để gọi là dạn dày nhưng cũng đủ để biết và cần hiểu mọi chuyện ở nhiều chiều.
Tôi còn nhớ, ngày tôi còn bé, nó đã quen thuộc với cái tên: làng Nghĩa Trang, tôi không hiểu sao lại có tên đó, cho tới bây giờ cũng vẫn vậy. Hình từ nhà ông bà nhìn về phía đông là dãy núi đá đỏ cứ lùi dần lùi dần bởi sự hao mòn của bàn tay con người. thế mà vẫn cứ nghèo. Tôi sợ những dãy núi, trong kí ức bé thơ của tôi, đó là một trong những điều bí ẩn và đáng sợ nhưng cũng không tránh được sự tò mò của một đứa trẻ con. Đôi lần tôi theo bố lên trên núi và nhìn trân trân vào cái thành phố của người chết ấy. Những “ngôi nhà” lặng im, treo lơ lửng trên sườn núi. Tôi chưa hiểu chết là thế nào, hình như là điều gì đó buồn lắm, lạnh lắm và im lặng đến ghê sợ… Đó là năm ông tôi mất. Bố con tôi trở về không kịp nhìn mặt ông lần cuối. Bố tôi khóc, đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy bố mình- một con người luôn nghiêm nghị và cứng rắn đến khó gần- khóc. Và tôi hiểu rằng thế nào là chết. Đám tang ông tôi đi vòng con đường đất cát chậm chạp theo từng vòng núi. Con đường dưới chân bỏng rát cái nắng cái nóng của ngày hè. Hình như trong lòng một con bé con bỗng trở nên rỗng. Tôi không còn cơ hội để được gần và được hiểu ông mình hơn nữa. Những kí ức về ông năm tháng cũng nhạt nhoà dần, cảm giác cũng dần phai, và có lẽ cũng như bao người khác, tôi chỉ còn có thể nhớ về người bằng lý trí.
Vì đất cát nên lúa ít mà lạc thì lại nhiều. Nhà ngoại tôi cách đó chừng mấy cây, mỗi lần sang nhà ngoại, tôi hay hỏi rằng: “Sao bên ngoại chẳng nhiều khoai nhiều lạc như làng con, toàn lúa”. Ngoại cười. Làng tôi nghèo lắm.
Làng đến một nửa là theo đạo. Ngôi giáo đường đứng sừng sững đối mặt với ngôi tự lớn không phân chia nổi lòng người cùng hướng về với ông bà, với những gì đã khuất lấp. Bà tôi vốn theo đạo, ông tôi theo lương, lấy ông nên bà phải bỏ đạo. Có đôi lần tôi hỏi bà: bà có tiếc không? Bà tôi không trả lời, tôi không bao giờ nghe thấy bà kêu tên chúa, nhưng cũng đôi lần thấy bà ngước nhìn lên bàn thờ chúa ở nhà người họ hàng, đôi mắt bà lúc ấy tôi không hiểu được.
Giữa cổng dẫn vào giáo đường là một hồ sen lớn, cách nữa là cánh đồng, từ những bậu thềm cửa chính, tôi có thể phóng tầm mắt mình vượt qua cánh đồng đến dãy núi xanh thẫm phía xa. Dãy núi sứt sẹo và gồ ghề, quanh năm lặng im như một giấc ngủ dài. Nhưng tôi biết là núi không chết.
Cứ vào mùa là sen lại hồng thắm cả mặt hồ. Tôi thường thấy sen nở trong chùa nhiều hơn, nhưng sen trước cửa giáo đường thì lại có cảm giác khác. Nó tự do bung nở, thanh khí cũng cao hơn. Dường như trong mỗi làn hương đều thoang thoảng tiếng ngân rung của chuông nhà thờ mỗi chiều. Bà tôi không có áo dài như các bà thường đi lễ. Nhà tôi cũng chẳng ai có, quanh năm chỉ một màu áo nâu cũ xỉn. Lễ lạt tết nhất may ra mới thấy áo mới. Là lúc bà dẫn tôi ra chùa cầu chúc cho gia đình bình yên và phát đạt. Từ nhà đến chùa phải đi qua hồ sen. Lần nào tôi cũng cố nán lại một lúc để hít hít cái hương thơm dịu ngọt ấy. Có đôi lần muốn thò tay xuống hái, nhưng sen là của cha xứ, của xóm đạo, bà cấm. Tôi nghĩ sẽ có lần tôi thực hiện được cái mong muốn nhỏ nhoi ấy, nhưng mà cho tới bây giờ thì vẫn chưa làm được và có thể rằng cũng không có cơ hội đế làm cái việc vụng trộm ấy nổi.
Không ai được đụng tới hồ sen, không ai có quyền xâm phạm vào hồ sen, tất cả mọi người trong làng đều hiểu được điều đó, duy chỉ có một người, một người duy nhất có cái quyền được quyết định cho cái sự sinh tồn của hồ sen, sau cha xứ.
Nhà chị nghèo lắm, chỉ có hai mẹ con nương tựa vào nhau. Mẹ chị là một người đàn bà khó hiểu. Lúc nào bà cũng quấn trên đầu một chiếc khăn màu đen, và ít khi cười. Cứ chiều chiều, người ta lại thấy bà lặng lẽ một góc trước bàn thờ chúa, khi mà tất cả mọi người đã trở về. Bà ít tiếp xúc với mọi người nên cũng không ít những lời xầm xì. Hai mẹ con như một sự âm thầm gắn với xóm đạo.
Chị có một cái thuyền nan bé, ngày ngày chị bơi thuyền ra giữa hồ, hái những bông sen mới nở đẹp nhất thơm nhất, gác vào mạn thuyền, hái một chiếc lá úp lại để tránh cái nắng đang bắt đầu vươn cao trên những bóng dừa. Chị hái những đài sen đang cong úp xuống phía mặt hồ như đang thầm thĩ. Ngày này sang ngày khác, cho tới hết mùa, cho tới khi mặt hồ chỉ còn là những cọng già nua lưa thưa, những con gọng vó ngơ ngáo ngước mặt phẩy chân, búng tanh tách làm vỡ tan bóng của cây thập giá trên đỉnh giáo đường xuống hồ. Sen hái được, chị đem vào cho đức cha, đài thì đem ra chợ bán. Tôi từng ước được như chị, được bơi thuyền giữa hồ mà hít cái mùi ngọt ngào thanh nhẹ của lá, cái nồng nồng còn bám chút lại ở cuống đài của bùn, được chơi đùa giữa những bông sen còn e ấp, xanh và hồng, và màu áo nâu, màu da trời, màu trắng của nhà thờ. Tất cả đối với tôi đều đẹp, đẹp như kí ức, như kỉ niệm. Tôi không bao giờ được làm cô hái sen,…
Ngày tôi đi học xa, cũng là ngày mẹ chị hoá điên. Sự trùng hợp ấy mãi sau tôi mới biết. Người đàn bà đã từng bị ruồng rẫy, bị phụ tình để rồi có một đứa con côi ấy đã không còn giữ được sự tỉnh táo khi đối mặt với chúa, với đời. Người ta đã thấy bà cười, sau một tràng cười ngất như chưa bao giờ được cười, từ đó tiếng cười và tiếng khóc trộn với nhau thành một nỗi ai oán khiến người ta phải lẩn tránh, phải đi đường vòng để tránh khỏi đối mặt. Cái khăn đen vẫn luôn trên đầu như một thách thức. Đó là một người đàn bà đẹp, chị Liên được hưởng cái vẻ đẹp đó từ người mẹ, và cả đôi mắt buồn như soi thấy đáy nữa. Tóc chị dài và đen, chị không búi lại như bà như mẹ, như chị tôi và những người phụ nữ khác trong làng. Chị hay buộc cái mớ đen dày ấy bằng một dải lụa màu, đỏ chói. Tôi không nhớ được giọng chị, nhưng tôi nhớ cái dải lụa đỏ thấp thoáng đằng sau những lá sen dày, nhớ con thuyền nhỏ của chị với những bông sen được nâng niu đằng mũi thuyền, dưới chiếc lá sen phủ bên trên là màu hồng của những dịu ngọt.
Một thời gian sau đó, xóm đạo làng tôi vắng bóng cha xứ, rồi được tin ông chuyển đi nơi khác. Hồ sen trước cửa giáo đường đến mùa vẫn nở, chỉ khác là chị Liên không còn đều đặn hái sen như trước nữa. Cha xứ mới thích để những bông sen mọc tự nhiên trong hồ, nó sinh ra thế nào thì cứ để nó toả hương nơi đó. Hồ sen trở nên chật chội từ ngày đó.
Đã lâu mới trở lại thăm quê, không hiểu sao cái hồ sen lại làm tôi nhớ nhiều đến thế? Tôi dẫn đứa cháu con ông anh đi dọc về phía chùa, đi vòng qua dãy núi để thắp hương cho ông tôi. Qua hồ sen, tôi dừng lại hồi lâu. Sen mùa này lại nở bung, Xanh mướt, hồng thắm. Tự nhiên mắt tôi thấy cay cay. Mùi bùn thoảng với mùi sen, tiếng chuông nhà thờ lại dóng lên thong thả. Đứa cháu tôi mười tuổi, bé bé xinh xinh, mái tóc dài đã chấm ngang lưng, đen mượt. Bất giác ôm con bé vào lòng như cố tìm lại cái gì đã từng đánh mất. Con bé tuột ra khỏi tay tôi, chạy theo một cánh chuồn vừa bay ngang qua, rồi quay lại nhoẻn cười.
Nụ cười đầy nắng!
2009
.
bài đã đăng của Đỗ Thư
- Rắn! - 30.10.2010
- Sen! - 02.02.2010
- Mùi! - 07.01.2010
- một và hai - 25.08.2009
- Cuối - 16.07.2009
- Cây gậy phép! ♦ Kí ức! ♦ Hoàng hôn… - 02.03.2009
- Chậm ♦ Mùa rụng tóc - 20.02.2009

Phần Góp Ý/Bình Luận