Trường hợp Đặng Tiến-Nam Chi
Khi tìm hiểu một tác phẩm văn học, tôi chú ý đến ba yếu tố, hai khách quan và một chủ quan. Đó là hoàn cảnh, thời đại và nhân cách. Hoàn cảnh liên quan đến môi trường sản xuất tác phẩm; thời đại tương quan với giai đoạn cưu mang tác phẩm và nhân cách gắn liền ít nhiều với bản ngã tác giả.
Trung thành với quan điểm vừa trình bày, hôm nay tôi viềt về tác giả Đặng Tiến bút danh Nam Chi, căn cứ vào những điều độc giả Vương Thế Lan đưa lên Tiền Vệ dưới đầu đề "Đặng Tiến và nỗi băn khoăn : làm sao cho khỏi bị đào thải”.
Bài thơ “Nói với con Nhất Lập” là một bài thơ thích hợp với trình độ tiếp thu thi ca của tôi và tôi thấy nó hay. Nó “đến từ” tấc lòng của tác giả khát khao hân hoan thấy ngày đất nước thống nhất độc lập sau bao nhiêu thập niên chiến tranh thảm khốc với vũ khí ngoại bang và thi hài người Việt. Cùng chia sẻ suy tư đó với Đặng Tiến có ít nhất một tổ chức quốc tế nổi tiếng – và cũng tai tiếng – : ủy ban trao giải Nobel hoà bình. Tôi không rõ anh Đặng Tiến thai nghén nó vào dịp cháu gái đầu lòng chào đời hay vào một dịp sinh nhật nào đó của cháu vì anh chỉ chú thích “Nhân ngày sinh con gái đầu lòng”. Tôi thiên về giả thiết tháng chạp năm 1975 là tháng cháu Nhất Lập lọt lòng mẹ trên đất Pháp. Làm cha có được đứa con so dễ tức cảnh sinh tình để làm thơ lắm. Mà làm thơ, nếu không ký thác tâm tư tình cảm thì gửi gắm cái gì đây? Đặt tên cho con luôn luôn thắm thiết tình cảm, không qua hình thức này thì qua hình thức khác. Đó đã là hoài bão của ông Đồ làng Phú Thị khi gọi hai đứa con sinh đôi là Bá Đạt-Bá Quát. Đó đã là băn khoăn của Đào Tấn khi cháu nội sơ sinh được đặt tên là Sư Kiệm1.
Trong xã hội, chức phận, danh phận, bổn phận – và đôi khi cả số phận – của từng cá nhân thường bị chính thể, chế độ tác động lắm khi rất nặng nề. Hơn nữa, xã hội còn tạo cho mỗi con người những quan hệ cộng đồng rất đa dạng; mỗi cá nhân là thành viên thuộc nhiều tập thể khác nhau, cho nên cương vị và vai trò xã hội tuỳ hoàn cảnh mà thay đổi. Vả lại bản thân xã hội cũng thường biến động cho nên thân phận của mỗi người lắm khi dường như không được qui định rõ ràng. Nhiều lúc con người còn có vẻ như bị động, không chi phối được thân phận của mình. Nhưng chính trong những hoàn cảnh đó, chính trước những tình huống đó, con người mới phát huy được đặc quyền lựa chọn, mới vận dụng được khả năng quyết định trong tư thế cá thể vừa tự do vừa hữu trách.
Lúc “nói với con”, Đặng Tiến đang ở Pháp và đã chủ động lựa chọn thế đứng chính trị. Anh khác hẳn với Trần Văn Bá, tất nhiên. Nhưng anh không phải chỉ có một mình. Bên anh có người cùng nghề với tôi lúc bấy giờ phần nào chia sẻ suy tư với anh, nhưng nay trở thành nhân vật phản kháng quốc nội. Bên anh có người lập trường khá gần khá giống với anh để giờ thay mặt nói lên tiếng nói của Phật giáo chính thống chống đối. Bên anh có người con của một giáo sư trung học di cư dạy Pháp văn đã từng hành động như anh và vẫn còn hoạt động giống anh. Chưa bao giờ tôi được đọc Đặng Tiến qua nội dung có cảm tình với chính thể đã đào tạo ra anh, ít nhất thì cũng ở những năm đầu đời. Tôi tôn trọng sự lựa chọn của anh.
Năm 1979, Đặng Tiến về thăm Việt Nam trong hai tháng hè và khi trở lại Pháp, anh viết “Nhân một chuyến về thăm quê hương”. Anh không làm thơ mà chuyển sang viết ký. Ký mô tả những con người, tường thuật những sự việc có thực trong cuộc sống. Đặc trưng cơ bản của ký là tính chính xác tối đa và đặc tính này, trong thực tế, là sức nam châm thu hút sự chú ý của người đọc, là nét quyến rũ hấp dẫn giới thưởng ngoạn. So với thơ, ký nổi bật lên ở nội dung lịch sử mà nó chứa tải trong khi thơ chú tâm khai thác khả năng ngụ tình. Trong ký, thông thường các yếu tố tự sự, trữ tình, chính luận hoà trộn vào nhau, quấn quít lẫn nhau; từ đó khiến ký phản ảnh linh hoạt các sắc thái muôn màu – tươi sáng cũng như ảm đạm – của cuộc sống. Ký cung cấp cho người sử dụng một môi trường thuận lợi để ngòi bút múa may, để ý tứ tuôn trào, để cảm xúc giăng trải; dẫu rằng trong ký, hư cấu tưởng tượng chỉ giữ vai trò rất thứ yếu. Nhưng chức năng chủ quan của ký giả cũng vẫn rất quan trọng và tài nghệ, bản lĩnh người viết ký thể hiện ở điểm biết lựa chọn đúng đối tượng để viết, biết tìm hiểu kỹ đối tượng và làm nổi bật lên, qua sự mô tả đối tượng, tính văn học của ký, tài văn chương của người.
Sở dĩ tôi viết dài dòng về ký là do nhu cầu rất chủ quan khi đọc những điều Đặng Tiến viết vào cái năm 1979 đó. Năm 1979 tôi còn ở Việt Nam. Tôi xác nhận rằng tất cả những điều Đặng Tiến viết khi “gặp lại rất nhiều bà con, bạn bè, nhất là các anh em trong giới trí thức, văn nghệ” đều “vận” đúng y chang vào thân thế, thân phận tôi năm 1979. Đúng nhất là nhận thức “ai nấy đều có công ăn việc làm, kể cả những anh em đi học tập mới về”. Đúng quá đi, đúng đến nỗi giờ đây đọc hàng chữ đó, tôi đâm ra sợ. Tôi được cấp giấy ra trại ngày 14 tháng hai năm 1978 thì ngày 2 tháng năm năm 1978 tôi đã đi làm lại với “cách mạng”. Trong bầu không khí lúc bấy giờ, nếu anh Đặng Tiến đến tôi chơi, tôi sẽ cung cấp cho anh những thông tin y hệt như anh đã đưa lên Đoàn Kết. Tôi nhấn mạnh một lần nữa vào thời điểm 1979 và xin có lời cầu mong những ai không sống tại Việt Nam ở tuổi biết suy nghĩ vào niên đại đó thì đừng bàn luận về những gì anh Đặng Tiến viết vào năm 1979. Xin nhấn mạnh lần thứ ba : năm 1979. Năm 1979 không phải Việt kiều nào cũng về được Việt Nam. Muốn về phải mang ít nhất nhãn hiệu vào thể loại Đoàn Kết. Khoảng năm 1979 đó – lâu ngày tôi quên mất thời điểm chính xác – trong ngành nghề chúng tôi có anh Bùi Mộng Hùng trở về Sàigòn. Bệnh viện Chợ Rẫy tổ chức một buổi nói chuyện có sự tham dự của anh Hùng, nhưng anh không phải là diễn giả. Tôi ngồi ngay những hàng ghế đầu – vì tới sớm (hội họp trong giờ hành chánh mà!) chứ không phải vì là VIP – bên cạnh bà Lưu Kim Tuyến, em gái ông Lưu Hữu Phước và vợ ông Nguyễn Vĩnh Niên, Khoa trưởng Trường Đại học Dược khoa Sàigòn. Chị Tuyến chỉ quen và thân tôi sau 1975. Chúng tôi không quan tâm đến những gì diễn giả nói mà chỉ tâm sự vụn. Chị Tuyến nhìn anh Hùng, nhìn những người ngồi quanh mình rồi bảo tôi : "Nói gì thì nói, chẳng biết làm sao cho tụi trẻ sang được Mỹ học đại học.” Chị bảo thế vì đề tài buổi nói chuyện là các thành quả y học của…Liên Xô. Phần tôi thì ngồi đó nhưng đang miên man suy nghĩ đến bức thư cầu cứu gửi ngày 12 tháng hai năm 1979 cho một nhân viên ngoại giao người Tây Đức và được trả lời rất thông cảm, với lời cam đoan sẽ làm mọi cách để giúp đỡ tôi; thư hồi đáp đó viết ngày 17 tháng tư năm 1979, từ Mannheim. Tôi nghĩ không cần viết thêm nữa. Cho nên những điều anh Đặng Tiến ghi nhận trong chuyến về thăm quê mùa hè 1979 chỉ là những điều người trong nước nghĩ là có thể kể cho anh nghe mà không phải sợ. Tất nhiên tôi hình dung là các đối tượng tiếp xúc cùng anh Đặng Tiến lúc bấy giờ đều thuộc phe bại trận, trong số có thể kể thêm anh Lê Ngộ Châu. Anh Đặng Tiến đã viết riêng một bài về Lê Châu đăng trên Da Màu. Qua bài viết, tôi nghĩ anh không thân với anh Lê Ngộ Châu bằng tôi; chẳng hạn chắc anh không có dịp ngủ lang nơi căn phòng nhỏ ngay dưới gầm căn gác lửng ngôi nhà 160 Phan Đình Phùng. Như tôi. Nếu như anh Đặng Tiến từng gặp anh Lê Ngộ Châu vào mùa hè năm ấy, nhất định anh Châu không thể cung cấp cho anh Tiến những tin tức, những nhận định nào khác những tin tức, những nhận định anh Đặng Tiến đã ghi lại trên Đoàn Kết. Đương nhiên đó toàn là tin tức, nhận định có vẻ thật nhưng không thật. Sự thật ẩn trú nơi khác.
Lỗi, theo tôi, không phải ở anh Đặng Tiến. Cũng như tôi từng trình bày trên talawas là nếu có ai nghi ngờ những điều ông Bùi Tín kể thì đó chẳng phải là lỗi của ông.
Cái chế độ do người cộng sản xây dựng lên ở Việt Nam là một chế độ vô tiền khoáng hậu. Trong chế độ đó chỉ có những archétypes stéréotypés và tất cả những mẫu hình khuôn đúc đó đều là nạn nhân. Kể từ ông Hồ trở đi và kể từ ông Hồ trở xuống. Quốc trưởng tất cả các nước trên thế giới – tôi nghĩ có lẽ kể cả Fidel Castro, Đặng Tiểu Bình hay Kim Nhật Thành – đều có quyền ân xá tử tội. Nhưng khi ông Hồ muốn cứu bà Cát Hanh Long thì ông phải thân hành đến xin gặp tên tướng Trung Cộng Lã Quí Ba để chẳng những không cứu đuợc người phụ nữ vô tội mà còn nhận thêm bài học theo đó hổ cái cũng là hổ. Ông Phạm Văn Đồng thân làm thủ tướng lâu nhất toàn cầu nhưng lại ký giấy nhận một phần lãnh thổ tổ quốc là của kẻ thù và còn thú nhận thực ra mình chẳng có quyền gì cả. Cái chế độ cộng sản Việt Nam có một chủ tịch bất lực và một thủ tướng vô quyền. Hải đảo Haiti còn thua xa, đừng nói gì các quốc gia khác. Có thể những câu chuyện chủ tịch bất lực, thủ tướng vô quyền chỉ là những dật sự, không phải lịch sử. Dẫu vậy, “cơ chế” nào có dật sự nấy. “Cơ chế” cộng sản là một nguồn bức xạ tối độc, độc đến độc nhất vô nhị. Tính phóng xạ của nó rất mạnh và rất hiểm. Nó gây tử vong nhiễm xạ đã đành, nó còn gây nên những hội chứng nhiễm xạ rất mực đa dạng và hầu như nan trị. Và giống như các nguyên tố phóng xạ vật lý, nguyên tố phóng xạ chính trị cộng sản cũng gây dị tật di truyền cho những đứa con tinh thần – thơ, ký, truyện dài, truyện ngắn, phóng sự, biên khảo – do giới văn nghệ sĩ nhiễm độc cưu mang.
Cho nên ông Đặng Tiến chỉ là một nạn nhân. Nạn nhân Đặng Tiến-Nam Chi, theo sự đánh giá hết sức chủ quan của tôi, ở vào tình cảnh rằng tài nên trọng mà tình nên thương.
Tôi nhắc lại lần nữa trước khi chấm dứt lòng kính trọng của tôi đối với cây bút Đặng Tiến-Nam Chi.
1 Cháu nội Đào Tấn được khai sinh với tên Sư Kiệm, có nghĩa là “thờ đức tiết kiệm làm thầy“. Nhưng nhà thơ không tán thành việc đặt tên như vậy vì chữ kiệm mang ý nghĩa làm giàu, do câu kiệm năng trí phú (tiết kiệm có thể trở nên rất giàu).
.
bài đã đăng của Trần Văn Tích
- Tôi đọc Trên vỉa hè Sài gòn - Phần Hai : thi ca trí tuệ - 19.02.2010
- Tôi đọc Trên vỉa hè Sài gòn - 11.02.2010
- Trường hợp Đặng Tiến-Nam Chi - 27.01.2010
- Chán ngán, ngại ngần - 19.01.2010

Trường hợp của tôi ở Đà Nẵng thì hoàn toàn khác với bác sĩ Trần Văn Tích ở Sài Gòn (dù sao
cũng là chổ “ông đi qua bà đi lại” thuộc loại quốc tế).Ngoài ra,ở đó có ông Võ Văn Kiệt với bản
lĩnh hiếm có của một lãnh tụ “thức thời” (so với nhiều người khác) đã chủ trương thu dụng giới
khoa bảng chế độ cũ.
Về ĐN.cuối năm 1977 tôi nằm nhà ”ăn bám” cha mẹ vì xin việc ở đâu cũng bị từ chối với lý do
“ngụy quân” còn bị quản chế và không có hộ khẩu.Do đó,để tránh bị phường trưng dụng đi làm
tạp dịch như vét cống,đào mương,phụ xây hội trường phường v.v. tôi đành phải đi làm thợ hồ
cho ông cai xây sau khi ông xây xong hội trường ! Tôi “hân hạnh” được có việc làm như thế đó,
dù tôi có bằng chuyên môn về y khoa,thưa ông ĐT.
Theo thiển ý,ông ĐT.về nước nhưng gặp gỡ toàn thứ… dữ nên ông được họ vẽ vời ra một khung
cảnh…hoành tráng về công ăn việc làm,không phân biệt,do đó ông chẳng cần kiểm chứng làm gì
mất công vì ông hoàn toàn tin tưởng vào các đồng chí của ông !
Tôi nghĩ thế nào ông cũng ghé chơi ĐN.vì quê ông ở đó,chẳng lẽ ông không biết chăng ?
Thưa ông Trần văn Tích,
“Tôi nhắc lại lần nữa trước khi chấm dứt lòng kính trọng của tôi đối với cây bút Đặng Tiến-Nam Chi.”
Câu này ông viết thâm thúy quá nên tôi đâm nghi ngờ khả năng đọc của tôi. Tùy theo cách ngắt câu, nghĩa của nó có thể ngược hẳn nhau. Ông muốn chấm dứt lòng kính trọng, hay ông muốn lập lại lần nữa lòng kính trọng trước khi chấm dứt?
Tôi chỉ là người dựa cột mà nghe nên tôi muốn hiểu cho đúng những gì tôi đọc. Xin ông tha lỗi cho sự mạo muội của tôi.
Thưa bà Tám,
Cháu không khỏi bật cười vì sự tinh mắt của bà. Cháu nghĩ, chắc là lỗi thư ký đánh máy thiếu mất dấu phẩy tai hại, chứ BBT Da Màu không “biên tập & kiểm duyệt” đâu. Kính.
Anh ngữ có chuyện một con gấu Panda vào nhà hàng. Ăn xong, nhà hàng chưa tính tiền thì gấu (côn đồ) này rút súng ra, không phải để dằn lên bàn mà còn bắn đoàng một phát và bỏ đi. Đó là cách đọc (có ngắt) của câu
Panda eats (,) shoots and leaves
Panda-ăn (,)-nổ súng-và-bỏ đi
Cách đọc không có ngắt câu thì chuyện bớt ly kỳ hơn một chút. Đó là “Panda (thì) ăn măng và ăn lá”.
Bà Tám không đọc cả bài mà chỉ đọc có đoạn ông Trần Văn Tích “xin nhắc lại” nên mới có sự diễn giải ly kỳ như trong bình luận trên. Đã nhắc lại lần nữa mà còn thế, tưởng là thiếu nên mới phải nhắc mà hoá ra đối với Bà Tám Panda lại đâm thừa.
Người viết muốn viết sao thì viết nhưng người đọc muốn đọc sao thì đọc là vậy.
Thưa ông Đỗ Kh.
Ông dựa vào đâu mà dám nói là tôi không đọc cả bài? Nếu là ông Đỗ Kh. viết thì tôi cứ đoán bừa và làm thinh. Chỉ vì ông Trần Văn Tích viết nên tôi mới cân phân suy nghĩ từng câu từng chữ đấy ạ.
Người Mỹ họ cũng có câu trong chữ assume có chữ ass between you and me đấy ạ. Xin đừng dở thói suy bụng mình ra bụng người.
Ông Trần Văn Tích nói: “Khi tìm hiểu một tác phẩm văn học, tôi chú ý đến ba yếu tố, hai khách quan và một chủ quan. Đó là hoàn cảnh, thời đại và nhân cách. Hoàn cảnh liên quan đến môi trường sản xuất tác phẩm; thời đại tương quan với giai đoạn cưu mang tác phẩm và nhân cách gắn liền ít nhiều với bản ngã tác giả.”
Thế nhưng trong bài này ông Trần Văn Tích chỉ nói tới hoàn cảnh và thời đại, mà chưa nói tới nhân cách.
Xin ông Trần Văn Tích cho biết ông đánh giá thế nào về một nhân cách như thế này:
Ông Đặng Tiến về VN ngay trong lúc cả thế giới đang xôn xao trước làn sóng người vượt biển, cả nước Pháp đang ầm ĩ chuyện Jean-Paul Sartre và trí thức xuống đường kêu gọi cứu vớt người tỵ nạn, và cả nước VN đang ở trong thời buổi khốn cùng nhất của chế độ bao cấp. Vậy mà ông Đặng Tiến nỡ viết bài “Nhân một chuyến về thăm quê hương” khoẻ re, hoàn toàn sai sự thật đến như vậy.
Năm 1979, bất cứ một con người bình thường nào cũng có thể thấy VN là một thảm cảnh. Nhưng ông Đặng Tiến là người “trí thức” mà lại không thấy gì cả ư? Mù và điếc?
Xin ông Trần Văn Tích tham khảo thêm bài viết “Khi trí thức táng tận lương tâm” của Huỳnh Văn Nhơn trên Tiền Vệ.
http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=9748
Thưa bác sĩ Trần Văn Tích,
Ông là người mà tôi kính trọng nhân cách và cũng yêu thích văn phong.
Hình như cũng hơi lớn tuổi hơn tôi.
Tuy vậy đọc ông viết:
“Khi tìm hiểu một tác phẩm văn học, tôi chú ý đến ba yếu tố, hai khách quan và một chủ quan. Đó là hoàn cảnh, thời đại và nhân cách. Hoàn cảnh liên quan đến môi trường sản xuất tác phẩm; thời đại tương quan với giai đoạn cưu mang tác phẩm và nhân cách gắn liền ít nhiều với bản ngã tác giả.
Trung thành với quan điểm vừa trình bày…”
Thì tôi… hết hồn. Phương pháp phê bình này sao hơi giống phương pháp phê bình của hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Phan Ngọc.
Bác Đặng Tiến hay đùa, mà các bác tin thật – thế mới chết!
Rằng bác Tiến về VN năm 1979 chỉ nghe những lời tán tụng về Đảng CSVN và nhà nước nên viết bài ký thoa hồng cho chế độ thì cũng phải. Tưởng tượng là bác Tiến khi gặp cụ bà Vũ Hoàng Chương năm 1979 đã nói: “Cái mừng thứ nhất là ai nấy đều rắn rỏi, khoẻ mạnh… Và người làm thơ thì vẫn làm thơ [nguyên văn] phải không ạ? Thế anh ra sao hở chị?” Bà VHC chắc đã trả lời: “Vâng, ai cũng khỏe mạnh cả, chỉ trừ ông nhà tôi, nhờ ơn cách mạng quẳng cái thân đang hấp hối từ nhà lao về nên gia đình cũng may mắn chôn cất được chứ không như những người khác mất xác trên rừng chú ạ! Ông cũng còn một bài thơ chữ nho, nhờ chú mang qua Pháp hộ, chứ ở đây giờ họ cố truy lùng và đốt bỏ hết mọi tàn tích văn hóa phản động và đồi trụy của ông.” Tất nhiên trên tờ Đoàn Kết lúc ấy bác Tiến làm gì đề cập đến việc gặp gỡ này vì nó thiếu… lập trường thí mồ, chỉ sau này thời cuộc bổng dưng đổi mới thì bác Tiến mới tán tụng VHC mà thôi…
Bác Tích có nhắc đến ông chủ báo Bách Khoa ở đường Phan Đình Phùng. Thưa chúng tôi thỉnh thoảng có lại nhà riêng ông Châu ở hẻm đường Công Lý lúc đó- nghe tại đó toàn những chuyện oái oăm về Cách Mạng kể cả về tư cách cái ông nằm vùng Vũ Hạnh vốn là khách quen thuộc lại đó hô hào rồi ăn hàng phở bên cạnh và… không trả tiền. Bác Tiến không nghe gì từ ông Châu à??? Tôi tin chắc là bác Tiến nghe và biết tất cả. Bằng chứng à: Khi đề cập đến Thơ Cao Tần thì bác Tiến có đầy đủ trong tay ấn bản của ông này in từ năm 1978 cơ mà. Này nhé bác Tiến hẳn đọc những câu: “Thư quê hương như tên hề ốm nặng -Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười … Rồi trôi giạt trên nghìn dặm khổ – Rồi âm thầm đổ giữa rừng sâu … Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí…“
Thế thì chuyện bác Tiến làm thơ ca ngợi cho cái đuôi Nhất với Lập trên quê hương mà bỏ qua những cái đầu Thống (khổ) và Độc (hại) trong lúc đó thì cũng dễ hiểu thôi. Các bác khác trong tờ Đoàn Kết có khác gì đâu? Vậy xin bác Ngô Nguyên Dũng đừng ngạc nhiện khi đọc thấy bác Tiến gửi tham luận về VN thì ca ngợi nhà xuất bản (và ban tùng xẻo) hết mình nhưng ở diễn đàn hải ngoại thì bác tuyên bố hết lòng chống kiểm duyệt. Hoặc khi xưa bác xưng tụng bác Tố Hữu, hoặc ngày nay bác phê phán bác Tố Hữu …
Bác Chế Lan Viên khi mất rồi mới cho đời biết “Anh là tháp Bay-on bốn mặt- Giấu đi ba, còn lại đấy là anh” Cái này thì bác Đặng Tiến cam đảm và hay hơn hẳn họ Chế: độc giả được chiêm ngưỡng nhiều khuôn mặt khác nhau của tháp ngà Đặng Tiến ngay lúc sinh tiền.
Phải chi gió chỉ một chiều…
Tôi đồng ý với Bà Tám. Không biết bác TV Tích viết như vậy vì vội “gõ” hay cần phải “đọc giữa hai hàng chữ đây?.(Từ xưa đến nay, tôi vốn sợ tiếng Việt, nhất là khi các “người anh em” của tôi xài.).
“Tôi nhắc lại lần nưã trước khi chấm dứt lòng kính trọng của tôi đối với cây bút Đặng Tiến-Nam Chi.”( Trích)
Dù có cho dấu “phẩy” vào giữa chữ dứt và lòng thì cũng tối nghiã.
Theo ông Đỗ Kh. thì câu này phải được hiểu như sau:”Tôi nhắc lại lần nữa trước khi chấm dứt, lòng kính trọng của tôi đối với cây bút Đặng Tiến-Nam Chi không thay đổi( hay không suy xuyển.)”. ( vui nhá!)
Nếu ông Đặng cứ thong dong giữa đàng mà đi thì chả ai nói làm gì, đằng này ổng tạt về “tả” hơi nhièu, hơi lâu nên không thể bảo ông ấy thiếu thông tin. Mà đã ” chủ động chọn thế đứng chính trị” như bác TV Tích viết thì ông ấy có nên đi tìm những sự thực đời thường để cả ông ấy và chế độ không vui.
Bác Tích nghĩ sao câu trả lời của ông Đặng cho Ngô Nguyên Dũng? :” Ai chả LẦM, thôi bỏ đi, anh Dũng!”
Vậy, nên tôi gọi bác là … Bác( Phật) Tích!
Bài viết này của ông Trần Văn Tích có hai chỗ rất yếu:
1/ Ông Tích dùng trường hợp may mắn của bản thân ông (rất ít người được như vậy) để bào chữa cho ông Đặng Tiến về việc ông Đặng Tiến “không nhìn thấy” cái thảm trạng phổ quát của đời sống VN năm 1979 và không hề biết đến tấn bi kịch tỵ nạn khủng khiếp đang xảy ra.
2/ Vô tình (?), ông Tích đã khiến người đọc có cảm tưởng ông Đặng Tiến năm 1979 giống như một cậu bé Việt kiều ngơ ngác mới từ Paris về nước lần đầu, không biết tiếng Việt, chỉ ở suốt trong khách sạn, chỉ được tiếp xúc với dăm ba người may mắn. Trường hợp này thì cũng có thể “mà tình nên thương”. Nhưng chẳng có gì để “rằng tài nên trọng” đối với một cậu bé ngơ ngác như vậy!
Không biết có bài viết nào trước ông Tích đã tỏ lòng kính trọng với cây bút Đặng Tiến hay không , nay trong bài viết này nhắc lại,chứ đọc bài viết này chỉ thấy một lần ông Tích viết “…tôi tôn trọng sự lựa chọn của anh”( điều này không có nghĩa là kính trọng đối với cây bút Đ T ) thôi, do đó tôi thấy ý kiến của Bà Tám là đúng .Ông Tích có thể viết ” Trước khi chấm dứt, tôi nhắc lại lần nữa ….” thì quá rõ nghĩa.Ông Đỗ KH. viết” đã nhắc lại….” mà có thấy lần đầu đâu mà nhắc lại, ông lại nói ” người viết muốn viết sao thì viết nhưng người đọc muốn đọc sao thì đọc vậy”,tôi thì cho rằng ông Tích cố ý để cho người đọc hiểu theo kiểu gì cũng được. Ông Đ KH. ơi, Bà Tám mới đọc kỹ toàn bài chứ không phải ông đâu.
Tôi mở đầu bài viết về ông Đặng Tiến bằng cách nêu ra những tiêu chuẩn tôi hay áp dụng khi tìm hiểu tác phẩm văn chương và trong câu chấm dứt bài viết tôi sử dụng hai chữ “cây bút“ để chỉ ông Đặng Tiến. Cho nên xin nhị vị Lê Thuyết và Tôn Thất Thái Dương rộng lòng hiểu cho rằng tôi không chú trọng bàn về nhân cách ông Đặng Tiến mà chú tâm đánh giá văn tài; do đó mới có một nửa câu Kiều rằng tài nên trọng. Văn tài đó tôi dựa vào một bài thơ và những dòng ký sự do ông Đặng Tiến chấp bút. Về nội dung, tôi đã phân tích hoàn cảnh bài thơ ra đời, tâm trạng người thơ khi viết; về hình thức, tôi nghĩ rằng tôi hiểu được bài thơ (bởi có rất nhiều bài thơ tôi không hiểu được) nên vui mừng công nhận nó là hay. Tôi càng mừng hơn vì cho đến hôm nay chưa có ý kiến nào phản bác nhận thức này.
Ông Lê Thuyết tỏ vẻ bất bình và dùng hai từ ngữ bệnh lý học ngũ quan để mô tả ông Đặng Tiến đồng thời ông chu đáo chỉ dẫn thêm để tôi tìm đọc tác giả Huỳnh Văn Nhơn. Tôi đã đọc cùng một lúc cả hai vị Vương Thế Lan và Huỳnh Văn Nhơn trước khi viết về ông Đặng Tiến, qua sự mách bảo của một thân hữu. Ông Huỳnh Văn Nhơn đan cử ngày 20.11.1978 khi trình bày thảm trạng thuyền nhân Việt Nam tác động lên dư luận nước Pháp. Tất nhiên ông chỉ nêu những thời điểm và thời kỳ chính yếu nên không thể nói rõ thêm là từ cuối năm 1976 báo chí Pháp ngữ đã loan tin về cuộc di cư càng ngày càng rầm rộ của những người Việt Nam ra đi trên những chiếc thuyền câu mỏng mảnh mà đến một nửa chết trên biển cả. Ông Huỳnh Văn Nhơn cũng kể rằng Sartre cùng hàng ngũ trí thức hàng đầu của Pháp “kể cả những người mang thẻ đảng cộng sản Pháp“ đều ráo riết vận động đóng góp cho chiến dịch “Un bateau pour le Vietnam“. Tuy nhiên lúc bấy giờ đảng cộng sản và cánh tả đảng xã hội Pháp lại lên án dự án nhân đạo này vì cho rằng nó làm mất uy tín chế độ Hà nội (!). Vậy nếu về phần mình ông Đặng Tiến không nhắc gì đến boat people thì đó là chuyện khác, không liên quan đến tài làm thơ và viết ký. Thực vậy, viết ký theo kiểu Đặng Tiến không phải ai cũng viết được. Chứ nếu viết à la* Thai Nguyen đại khái như :“người làm thơ thì vẫn làm thơ, trừ thi sĩ Vũ Hoàng Chương“ thì đâu còn nét tài hoa nữa! Cũng như nếu viết: “không có áp chế, chỉ có khủng bố đỏ thôi” thì ôi thôi, mất sạch chất Đặng Tiến rồi còn gì. Và nếu không chịu ngừng lại ở đấy, còn cẩn thận chú thích thêm: “so với trước 1975, bây giờ có một Bộ Công An trong chính phủ trung ương, có những trụ sở công an phường trương bảng cơ quan chen vào giữa những cửa hàng buôn bán, có những anh bạn công an khu vực rất mẫn cán v.v..“ thì…
Độc giả Phan Ngọc cho rằng phương pháp phê bình của tôi hơi giống phương pháp phê bình của hiện thực xã hội chủ nghĩa. Kiến giải này khiến tôi băn khoăn không chừng mình cũng nhiễm phóng xạ mất rồi; vì tôi đã từng tiếp xúc với bức xạ cộng sản từ 30.04.75 đến 24.01.84. Nhưng suy nghĩ lại tôi tạm yên tâm và xin được hỏi khí không phải: vận dụng ba tiêu chuẩn hoàn cảnh, thời đại và nhân cách vào công việc phân tích một bài thơ và những dòng ký của ông Đặng Tiến, tôi có phạm điều gì sai lầm khiếm khuyết hay không?
Tôi chỉ nhắc đến địa chỉ chính thức của toà sọan Bách Khoa mà không đả động đến địa chỉ tư gia của vị chủ nhiệm quá cố. Nhưng khi ông/bà Thai Nguyen đề cập đến ngôi nhà ở đường Công Lý thì tôi cũng lan man nhớ lại nhiều kỷ niệm với anh Lê Ngộ Châu. Xin được cảm tạ ông/bà Thai Nguyen.
Nhị vị Phan Đức và Tôn Thất Thái Dương cùng nhắc đến hoàn cảnh của những người (và của nhiều người) thiếu may mắn hơn tôi sau khi ở tù về. Tôi xin ghi nhận thực trạng hiển nhiên này và xin được hoàn toàn đồng ý. Nhân tiện xin có một lời trần tình: tôi tự nêu trường hợp cá nhân khi đọc ký sự Đặng Tiến chứ không hề ngông cuồng tự nhận mình là đại diện cho bất cứ ai, lại càng không dại dột đến nỗi xem những dữ liệu liên quan đến thân phận mình năm 1979 đó đều có tính cách thống kê.
Bà Tám, ông Đỗ Kh. và ông Hoàng Đại Dương đã rất tinh tế qua các phản hồi cùng bình luận câu văn cuối cùng của tôi. Tôi đã xem lại định cảo gửi cho Da Màu và nhận thấy rằng trong câu văn liên hệ tôi không sử dụng dấu phẩy nào cả. Nên đành tùy lòng, tùy lượng Bà Tám và bà con, hiểu sao thì hiểu, như độc giả Hà Thủy nhận định. Vì tự cho phép mình tri ân tri âm ông/bà Hà Thủy nên tôi mong ông/bà Nam Phan miễn cho tôi chữ “Phật” mà tôi thành thật không dám nhận.
__________________________________________
*à la : theo kiểu, theo cách.
Đáng lẻ bà Tám phải nói:” There is an ass before you not me” , mới đúng theo nghĩa đen (spelling) của assume. Còn nghĩa bóng? You figure it out.
Việc ông Đăng Tiến trở về VN 1979 để viết một bài ký giá trị như vậy, không nằm ngoài tư tưởng phát triển dựa trên nền tảng cảm tính phẫn nộ và yêu thương – 2 tình cảm chủ yếu của mỗi con người có ý thức trước số phận dân tộc mình – phẫn nộ với những gì đáng phẫn nộ và yêu thương với những gì đáng được yêu thương.
Tôi thiển nghĩ : những người hễ nhắc tới VN là chỉ ngĩ rằng VN xấu xa, thì không còn gì để nói nữa. Thêm một điều này, có khi tôi không phải với hương hồn ông bà cha mẹ và bao nhiêu bà con tôi đã lầm lũi vượt biên và chết giấc ngoài biển rằng : đội quân vượt biên sau 1975 ấy, nghèo đói và ốm yếu hơn đoàn quân VC nam tiến hay sao ? Đánh giá chuyện gì, cũng nên công bằng một chút – chỉ cần một chút thôi để nhìn nhận và chấp nhận thời cuộc như lẽ đương nhiên của nó.
Qúy vị nào nghĩ rằng tôi thân Cộng cũng không sao ! Xin thưa, tôi đẻ ra ở chuồng cọp Côn đảo, năm lần bảy lượt trở lại Côn đảo, phải chăng tôi biết muối VN mặn hơn quý vị biết ?
Cảm ơn DA MÀU chấp nhận hoặc không chấp nhận ý kiến của tôi.
Đọc bài của ông Trần văn Tích thật là…thấm thía…và tuyệt vời!
Tôi đã đọc nhiều bài của nhà phê bình văn học Đặng Tiến và..cũng biết ông ăn cơm Quốc Gia thờ ma…Bác Hồ dù tôi chẳng học hành gì nhiều.
Tôi thực tình trân trọng những vị góp thêm ý kiến cho bài chủ…vì tôi học hiểu thêm những điều thú vị về cách làm người tử tế.
Tôi chỉ có một nỗi buồn nhỏ là…lỡ sanh ra ở Quảng Nam cùng quê với nhà phê bình văn học Đặng Tiến mà thôi.
Tôi nhắc lại với lòng kính trọng với ông Trần Văn Tích.
Đã 30 năm có lẻ mà bài thơ “Nói với con Nhất Lập” của anh Đặng Tiến vẫn gây cho tôi nhiều xúc cảm! Phải hiểu rằng ngày hôm nay Việt Nam ra nỗi này không phải chỉ lỗi một bên này bên kia, hoặc chỉ toàn là hậu quả của quá khứ. Độc giả “Đứa Bé” đã rất đúng khi cho rằng cái gì cũng “nên [cần] công bằng một chút”, cái gì cũng phải tương đối cũng phải “phiên phiến thôi” nói theo kiểu anh Đặng Tiến. Nếu so sánh với những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn khác trên thế giới thì Việt Nam được kể là ít đổ máu nhất. Nếu so sánh với những cựu thù của Mỹ thì Việt Nam lại bị đòn dai nhất, chẳng được bồi thường tái thiết chiến tranh còn bị cấm vận lâu nhất, còn bị thọc gậy bánh xe, làm lơ để bị đánh gọng kìm phía Bắc và Tây Nam v.v. và v.v. Là người từng xuống đường biểu tình chống tham nhũng 1974, từng bị đói những năm 1978-1980, từng bị giam vì vượt biên và ăn không ít báng súng (may mà không ăn đạn) vì toan tính trốn trại, và rồi đặt chân lên đất Hoa Kỳ với đầy căm hận. Nhưng càng sống lâu càng nghiền ngẫm tôi càng thấy mặt trái của vấn đề. Nhìn thế nhưng không phải thế hoặc nói theo kiểu mua vui thì “lý tưởng là những gì mình tưởng là có lý”. Do đó, theo thiển ý của tôi, phê bình xây dựng, đấu khẩu để tìm ra chân lý thì được nhưng chẳng ai có quyền kết tội ai. Cái quan trọng như ông Trần Văn Tích đã nói là hoàn cảnh, thời đại (điểm) và nhân cách sẽ là thước đo cho một tác phẩm văn học. Cũng tương tự như thế một tác giả có thể có những tác phẩm rất có giá trị vào một thời điểm nào đó nhưng không thể đoan quyết rằng vì những góc cạnh khác được khám phá trong tương lai – vì không gian và thời gian đã thay đổi – người đọc lại tính đến chuyện dùng những khám phá này để phủ định toàn bộ giá trị trước đó.
Nói như anh Đỗ Kh. thì tôi không cần phải viết thêm, nhưng để rộng đường dư luận cho những độc giả như Bà Tám, thì tôi xin khẳng định rằng tôi hoàn toàn đồng tình và “nhất trí” với việc xuất bản “Thơ Đến Từ Đâu” của anh Nguyễn Đức Tùng. Tôi cũng luôn trân trọng và ái mộ những nhận định rất chính xác và nhân bản, tính đến hôm nay, của nhà phê bình Đặng Tiến. Một lần nữa cảm ơn bạn đọc gần xa đã rôm rả tranh luận để tôi có dịp đọc lại một bài thơ hay như thế, bài thơ “Nói Với Con Nhất Lập” của anh Đặng Tiến.
Xin mạn phép ghi lại bài thơ xuống đây một lần nữa để bớt chút thời giờ cho độc giả:
Nói với con Nhất Lập
Con hình thành
Khi cô bác vùng lên giành lại núi sông
Năm mươi lăm ngày đêm đất chuyển trời rung
Con có nghe
Trong bụng mẹ sóng gào biển lớn?
Cha muốn nói với con
Những lời nói nửa đời chưa nói trọn
Độc lập, Thống nhất, Tự do
Vì hôm nay lịch sử hẹn hò
Trên năm ngón tay cha sờ bụng mẹ
như ngọn gió Lào lay Trường Sơn nhủ khẽ
Trận cuối cùng dứt điểm hôm nay
Con có nghe trong chín tháng mười ngày
Năm nghìn năm rung chuyển?
*
Từ nguồn đến sông từ sông về biển
Con chào đời thao láo mắt bình minh
Cha đã muốn nói với con trăm ngàn chuyện quê mình
Chuyện lưỡi cày cắm sâu vào sỏi cát
Chuyện giọt mồ hôi trên đồi trưa bỏng rát
Thành củ khoai tròn trịa tựa tim người
Chuyện bàn tay hơ bếp lửa sắn vui
Thắp tiếng cười lung linh mái lá
Chuyện mối tình đêm trăng đầu hạ
Trên đường làng mùi rạ ấm phân trâu
Cha muốn hôn con trong cái hôn đầu
Bằng ngọn gió nồm
Thổi qua chùm hoa khế
*
Còn lắm chuyện con không cần cha kể
Đã khắc sâu trong lịch sử loài người
Những nét lửa bay dài thế kỷ hai mươi
Chuyện các cô tay mò cua bắt ốc
Súng trên vai đôi mắt đựng trời xanh
Cao tay roi này các chị các anh
Vừa chăn trâu vừa đuổi giặc
Hiền như đất kia con chào các bác
Giữa đô thành ôm súng nhớ rừng sâu
Nhớ từng chiếc lá xanh mấy lớp đã thay màu
Trên mái tóc đang nhòa trong sương muối.
*
Với bè bạn năm châu sau này con sẽ nói
Việt Nam
Con thấy chúng nghiêng mình
Con có quyền hãnh diện
Việt Nam Việt Nam
Miễn con đừng quên ơn cô dì chú bác
Miễn suốt đời con biết
không có gì quý bằng ngọn cỏ quê hương.
ĐẶNG TIẾN
Orléans, 12-1975
(Nhân ngày sinh con gái đầu lòng)
actionminded (là ai?) vừa xuất hiện lần đầu là đã cố tình đánh lạc hướng. Bài thơ “Nói với con Nhất Lập” không phải là vấn đề cần đem ra để đánh giá tư cách con người của Đặng Tiến. Bài “Nhân một chuyến về thăm quê hương” mới là vấn đề.
Bài “Nhân một chuyến về thăm quê hương” viết sau chuyến về nghỉ hè 2 tháng ở VN năm 1979 đã biểu lộ rõ ràng tư cách con người của Đặng Tiến.
Một lần nữa, xin đọc lại hai bài sau đây, trong đó có tất cả những tàI liệu và bằng chứng cụ thể:
“Đặng Tiến và nỗi băn khoăn: làm sao cho khỏi bị đào thải” của Vương Thế Lan:
http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=9733
“Khi trí thức táng tận lương tâm” của Huỳnh Văn Nhơn
http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=9748
actionminded chỉ là một nickname, không biết đó là ai mới xuất hiện lần đầu mà tuyên bố hùng hồn như một người có thẩm quyền: “Tôi xin khẳng định rằng tôi hoàn toàn đồng tình và “nhất trí” với việc xuất bản “Thơ Đến Từ Đâu” của anh Nguyễn Đức Tùng.”
Chữ “khẳng định” này cho thấy actionminded là một người nào đó đã từng phát biểu đồng tình và “nhất trí” với “Thơ đến từ đâu” và bây giờ thì nhấn mạnh điều đó thêm một lần nữa.
Việc đồng tình và “nhất trí” với “Thơ đến từ đâu” không liên quan gì tới vấn đề đang tranh luận ở đây.
Ông Tôn Thất Thái Dương,
Ông lại chủ quan và võ đoán rồi. Đây không phải là lần đầu tiên tôi xuất hiện trên diễn đàn (ông cứ tìm tên tôi về các mục luận bàn về tiếng Việt sẽ thấy). Tôi chỉ góp ý khi thật cần thiết vì tôi thích “làm hơn nói” do đó tôi mới lấy tên là ActionMinded. Ông lại đoán già, đoán non tôi là thế này là thế nọ, xin lỗi, như thế là rất trẻ con. Tôi luôn tin rằng hãy làm một cái gì cho quê hương đồng bào, dù là rất nhỏ như giáo dục con cái theo những phong tục tập quán tốt đẹp của người Việt, trầm tĩnh trong tranh luận, thay vì ngồi đó mà mắng nhiếc nguyền rủa quá khứ.
Tất cả các bài liên quan đến ông Đặng Tiến, khởi thủy từ việc kiểm duyệt và xuất bản cuốn “Thơ Đến Từ Đâu” và ngay cả nhiều bài trước đó tôi đều đã đọc cẩn thận, kể cả hai bài ông vừa nhắc tới của Vương Thế Lan và Huỳnh văn Nhơn trên Tiền Vệ. Ông dùng sai chữ thẩm quyền rồi đó! Tôi dùng chữ “khẳng định” là để nhấn mạnh nhận định của cá nhân tôi, khác biệt với những lên án của ông và một số độc giả khác, về ông Đặng Tiến. Nếu ông cho rằng việc tôi cảm thấy chẳng có gì bức xúc với việc xuất bản cuốn “Thơ Đến Từ Đâu” ở trong nước và lấy làm tâm đắc với bài thơ “Nói với con Nhất Lập” không dính dáng gì đến cuộc tranh luận của chúng ta thế thì tại sao ông lại phải viện dẫn những bài viết mà ông cho là “những tài liệu và bằng chứng cụ thể” về ông Đặng Tiến. Nói cách khác tôi dùng “Thơ Đến Từ Đâu” và “Nói với con Nhất Lập” như là những bằng chứng cụ thể mà trong đó, theo tôi, ông Đặng Tiến không phải là người như các ông đang lên án. Đó là bằng chứng cho thấy chúng ta có những cái nhìn khác nhau, nhiều khi hoàn toàn trái ngược, về cùng một vấn đề. Thí dụ như trong bài của ông Huỳnh văn Nhơn nhắc đến việc Pháp kêu gọi vớt thuyền nhân thì tôi lại nghĩ đến cảnh một tên sĩ quan Pháp một tay phì phèo điếu thuốc lá còn chân thì đạp lên thủ cấp của một số người Việt Nam vừa bị rơi đầu vì máy chém thực dân. Hoặc như tôi đã nhắc đến trong góp ý trước về lý do tại sao Việt Nam lại bị đói như thế vào năm 1979 – cấm vận, phải lo lương thảo và chống đỡ hai mặt giáp công của Tàu ở phương Bắc và Pôn Pốt, tay sai của Tàu ở Tây Nam. Chính những nhận định khác biệt này đã dẫn đến những cuộc tranh luận đang có để tìm ra sự thật, tìm ra một đáp án chung. Như tôi đã từng phát biểu hơn một lần trên nhiều diễn đàn, (trong một cuộc tranh luận thẳng thắn và giả sử không bên nào có ý đồ đen tối – nên nghĩ tốt cho người khác trước khi vào cuộc tranh luận) nếu đối phương chưa nghe ta thì có thể có hai lý do: ta sai, hoặc ta đúng nhưng chưa đủ sức thuyết phục nên cần cố gắng hơn nữa. Nhưng phần lớn các cuộc tranh luận đi đến bế tắc vì khi không thuyết phục được người khác thì ta lại cứ khăng khăng là ta đúng, đối phương quá ngu dốt hoặc quá cố chấp rồi tấn công vào những chuyện bên lề, những chuyện trước mắt mà không thấy hoặc quên đi tổng thể, không thấy cái tương đối, hoặc nói theo kiểu nhà Phật là chưa biết buông thả, chưa hỉ xả thì làm sao mà ngồi lại với nhau được. Xin kiếu!
Vấn đề chính ở đây không phải là chuyện quốc gia hay cộng sản mà
là vấn đề công bằng trong nhận thức. Học giả Trần Văn Tích cho là
bài ký có điều thật lẫn điều sai nhưng sự thật trú ẩn ở nơi khác. Nhận
định này là chính xác. Trái lại, “đứa bé” khen là bài ký giá trị, vậy thì
xin hỏi giá trị là chối bỏ sự thật hay sao? Hay giá trị là có ý nghĩa đối
với nhà nước CSVN? Tôi nghiêng về nghi vấn sau, căn cứ vào cách
trình bày và lý lẽ của ông.
Ý kiến của actionminded là lạc đề, có lẽ nhằm đánh lạc hướng vấn đề
đang bàn về bài ký… dổm của ĐT, viết ở giai đoạn bi thảm nhất sau
khi chủ nghĩa CS toàn trị cả nước.
Trong những tuần lễ trước có Trang Tử, một loại hàng “xịn”, thì tuần lễ này thấy bắt đầu xuất hiện trường hợp “actionminded” như trên đây, thì chí ít “chàng” này phải thuộc loại hàng “hiếm”, là bỡi vì “chàng” đã từng “bị đói…, bị giam…, ăn không ít báng súng…”, tới Mỹ “với đầy căm hận”, mà lại đâm ra phải lòng bài thơ Nhất Lập, cho rằng bài thơ đó là hay, mà không chịu khó nói rõ giùm luôn thể là nó hay là hay về cái gì, tỷ như hay về văn chương thi phú, hoặc hay về ý tình…, hoặc hay như thế nào, vân vân…; người như thế quả là “hiếm”.
Về cái lý do làm cho “chàng” phải lòng bài thơ, theo chàng thì chỉ vỏn vẹn là nó “vẫn” gây cho chàng nhiều xúc cảm! Cái chữ “vẫn” đây nói lên cái gì vậy?
Lại còn:”…Nếu so sánh với những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn khác trên thế giới thì Việt Nam được kể là ít đổ máu nhất. Nếu so sánh với những cựu thù của Mỹ thì Việt Nam lại bị đòn dai nhất, chẳng được bồi thường tái thiết chiến tranh còn bị cấm vận lâu nhất, còn bị thọc gậy bánh xe, làm lơ để bị đánh gọng kìm phía Bắc và Tây Nam v.v. và v.v.”. “Hiếm” chưa?
Và rồi “chàng” cũng đã từng “biểu tình chống tham nhũng 1974″, ôi sao mà lắm thế, đâu cũng có “chàng”, mọi hang cùng ngỏ ngách, cứ như là 007 không bằng, tài thật! Đúng là “actionminded”, nghe đến khiếp!
Ai tin nổi không hở, giời ạ?
Đúng là thế giới ảo!
Chỉ cần một nickname!
Thư gởi bác sĩ Trần Văn Tích,
Tôi sắp viết thư trả lời thắc mắc của ông, thì gặp phản hồi nên tạm bàn chút chuyện có can hệ ít nhiều chuyện hai ta sắp nói.
Vừa đây anh Phan Đức viết:
“Vấn đề chính ở đây không phải là chuyện quốc gia hay cộng sản …”
Nói thế là nói sai, không thẳng thắn. Cốt tủy mọi tranh cãi bấy nay vẫn chuyện xung đột quốc gia cộng sản. Đó là nói quá khứ, chớ còn bây giờ là chuyện xung đột giữa độc tài – dân chủ.
Đa số những người ngày nay tự nghĩ mình quốc gia, hô hào mạnh miệng, đất Mỹ Úc tự do mà, ai nói khác mình liền đả kích ôi thôi , thì ngày trước đã chẳng hoàn tất được việc chống cộng , có lỗi với đồng bào. Đa số trốn quân dịch, 75 vứt súng chạy trước. Tôi nói đa số chớ không nói tất thảy, vì cũng có những anh hùng mà kẻ này ngã mũ, những người quốc gia thứ thiệt đã hi sinh hay vào tù ra khám như bậc sinh ra kẻ hèn này.
Ngày nay những người dân chủ mới là lực lượng, mà một số họ thì có thể đã từng là đảng viên CS hay thân cộng, thậm chí bây giờ vẫn còn liên hệ với chính quyền, như trong nước thì làm việc cho chính phủ.
Ông Đặng Tiến ngày xưa miền Nam cho đi ăn học mà thân cộng, chống quốc gia thiển nghĩ là sai, nhưng ngày nay ông ta ủng hộ dân chủ chống độc tài thiết nghĩ là đúng. Bươi chuyện cũ ra làm chi?
Đúng sai phải rõ ràng, răng mô ấm ớ lằng nhằng?
Vì vậy mà tôi hiểu bác sĩ trọng và thương ông ấy (phần nào) cũng phải.
Tiếc rằng trong lúc ấy bác sĩ lại không nói thẳng ra, lưỡng lự cho qua chuyện, viết văn hàng hai, hay là vì có chút sợ hãi đám extrémistes đâu đây?
Cám ơn BS,
Tôi tạm dừng bút ( phải đi trông cháu),
Phan Ngọc.
Ông/bà ActionMinded,
1- Tôi nói ông/bà “mới xuất hiện lần đầu” trong cuộc tranh luận này về bài viết “Trường hợp Đặng Tiến-Nam Chi” của ông Trần Văn Tích. Ông/bà có xuất hiện ở chỗ nào khác để nói về chuyện gì khác thì hoàn toàn không liên quan gì tới cuộc tranh luận này.
2- Không có điều gì chứng tỏ tôi đã không “trầm tĩnh trong tranh luận”. Tôi cũng không “ngồi đó mà mắng nhiếc nguyền rủa quá khứ”. Mấy hôm nay tôi đang đưa ra những nhận xét về bài viết của ông Trần Văn Tích và đối tượng của bài viết đó. Tôi không nguyền rủa mắng nhiếc quá khứ nào cả.
3- Hình ảnh triết gia khuynh tả Jean Paul-Sartre cùng giới trí thức mà đại đa số là những trí thức chống chế độ thực dân đang kêu gọi vớt thuyền nhân là một hình ảnh cho thấy lương tâm của trí thức trước thảm cảnh của nhân loại. Thế mà ông/bà ActionMinded thấy hình ảnh đó thì “lại nghĩ đến cảnh một tên sĩ quan Pháp một tay phì phèo điếu thuốc lá còn chân thì đạp lên thủ cấp của một số người Việt Nam vừa bị rơi đầu vì máy chém thực dân”? Quả là một óc liên tưởng cực kỳ lệch lạc đến mức quái dị. Điều này quá đủ để nói lên quan điểm của ông/bà ActionMinded.
4- Ông/bà ActionMinded dùng “Thơ Đến Từ Đâu” và “Nói với con Nhất Lập” “như là những bằng chứng cụ thể mà trong đó, theo tôi, ông Đặng Tiến không phải là người như các ông đang lên án.” Thật là một lối đánh giá con người theo kiểu tránh né.
Bằng chứng cụ thể là đây: Năm 1979, trong lúc Jean Paul-Sartre cùng giới trí thức đang kêu gọi vớt thuyền nhân, thì Đặng Tiến thanh thảnh về VN “nghỉ mát 2 tháng hè”, rồi trở lại Paris để viết một bài hết sức dối trá về thực trạng Việt Nam.
Đánh giá tư cách đạo đức của một con người thì hãy nhìn vào hành động, chứ đừng nhìn vào những mỹ từ. Đã có quá nhiều kẻ vô đạo đức mà vẫn viết văn bóng bẩy đẹp đẽ. Peter Braunstein, nhà văn chuyên viết bài ca tụng phụ nữ trên báo Woman’s Wear Daily đã hiếp dâm và hành hạ một phụ nữ suốt 13 tiếng đồng hồ ở New York năm 2005. Chuyện này đã làm cả thế giới sửng sốt. Nhiều khi văn chương chỉ là cái vỏ giả tạo để che đậy một bản chất ngược lại.
Phần Góp Ý/Bình Luận
Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions