Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Chuyên Đề, Kiểm Duyệt Văn Hóa Nghệ Thuật Email bài này

Đọc ‘Thơ Đến Từ Đâu’ như một văn bản

 

 

 

LTS:  Qua nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, chúng tôi vừa nhận được bài viết của nhà phê bình Trần Thiện Khanh về cuốn sách Thơ Đến Từ Đâu. Theo nhà thơ Nguyễn Đức Tùng thì đây là bài cuối cùng trong số 20 bài tham luận của cuộc hội thảo mới đây tại Hà Nội về cuốn Thơ Đến Từ Đâu. Bài này đã được tác giả sửa lại nhiều đoạn và tự tay biên tập lần cuối cùng. Chúng tôi xin đăng lại để rộng đường dư luận.

 

 

Câu hỏi Thơ đến từ đâu có ý nghĩa tu từ ở chỗ nó mô phỏng hành động ngôn ngữ có hiệu lực ở lời, nó chất vấn chủ thể sáng tạo, nó tra vấn những điều kiện hợp thức hoá một diễn ngôn thi ca, cả môi trường quy định một kiểu hoạt động ngôn từ nhất định(được tồn tại và vận hành chức năng của chúng ra sao). Câu hỏi đó hướng đến sự tái lập một loại hình diễn ngôn nào đó, cũng tiền giả định một câu trả lời có kinh nghiệm của người nói về lao động sáng tạo và về việc công khai hoá các ý đồ sáng tạo đó bằng các cách thức truyền thông khác nhau, nó đã chứa sẵn một hiện thực, tạo ra một hiện thực nếm trải. Tôi nói cuốn sách của Nguyễn Đức Tùng đem lại cho chúng ta một hỗn đồng diễn ngôn, một diễn ngôn tập thể có nhiều bè; nói đúng hơn nó đem đến các diễn ngôn của các vai, các chủ thể, sự đối thoại giữa các diễn ngôn trong nó chẳng những cho ta thấy cái dự đồ của người hỏi đã quy định chiến lược giao tiếp chung của các đối ngôn còn lại, mà còn cho thấy những vấn đề phức tạp mà sáng tạo văn học phải đối mặt.

Những phát ngôn chất vấn

Sự phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng tạo ra một loại tri thức, tạo ra những “liên kết” (inter), những cách nhìn, chủ kiến (view) mới chứ không phải giản đơn chỉ truyền lại một tri thức, kinh nghiệm có sẵn nào. Các phát ngôn phỏng vấn chẳng những tạo ra một bối cảnh mới cho tri thức của các đối ngôn được trình hiện mà còn thiết lập các quan hệ liên chủ thể, các quan hệ cá nhân, xã hội phức tạp. Chủ thể của phát ngôn phỏng vấn tạo ra một trò chơi ngôn từ. Ở đó, sự hiểu biết của người hỏi được chuyển hoá một cách tự nhiên thành năng lực phát ngôn, thành các “nước cờ” trong chiến lược giao tiếp – đối thoại của anh ta. Chúng tôi nói đến một Nguyễn Đức Tùng chủ thể của nhận thức, của hành động ngôn từ, một chủ ngữ của lời phỏng vấn, một cái Tôi chức năng.

Các phát ngôn của Nguyễn Đức Tùng dẫn độc giả, cùng chính cái Tôi đối đáp đó trở về thế giới của thơ, thế giới của những cách nhìn, của những phát ngôn có nhạc, nhịp. Tôi sử dụng thơ như một điểm tựa để định nghĩa, để cắt nghĩa cái thế giới nội tâm của nhà thơ, “Tôi” biến thơ thành chất liệu cấu trúc cái tôi của chủ thể Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Tôi đặt định cho Nguyễn Thị Hoàng Bắc một cảm quan về giới, cấp cho chủ thể nói năng những điều kiện thích hợp để chủ thể ấy có thể phát biểu nhận định của mình về giới. Nguyễn Thị Hoàng Bắc có thêm một cơ hội để phục dựng hình ảnh của mình. Nguyễn Đức Tùng muốn tái lập một cách chân thực những ấn tượng sâu sắc ở chủ thể, muốn nhận diện, đồng thời cắt nghĩa được điều gì đã ám ảnh chủ thể sáng tạo, anh dò tìm khoảnh khắc cái Tôi bị cô đặc lại. Chúng ta thấy, chất thơ và kí ức hỗn độn trong phát ngôn về thời gian. Tôi giả định về một cách đọc văn bản, chất vấn cách đọc văn chương thuần tuý. Cái tiêu chí đọc mà Tôi muốn xác lập và đã dự phóng, rốt cuộc lại trở về trạng thái nghi vấn chính mình, sự đọc của Tôi và độc giả biến ảo vô tận. Tôi không thể áp đặt một mô hình đọc chung cho tất cả, cũng không thể hiệu chỉnh cách đọc mà tôi cho rằng đã phiến diện hoặc phi hiện thực. Cách đọc của Tôi bị vô thức chi phối, song cũng bị ý thức tỉnh táo kiểm duyệt, sự đọc bị biến thành một cuộc tranh chấp quyền quyết định sự tồn tại của văn bản, quyền được định đoạt cái gì sẽ tồn tại và vận hành trong thế giới văn chương. Tôi liên tục đưa ra các phát ngôn thăm dò, giả định và gán nghĩa. Nguyễn Đức Tùng biết cách ràng buộc và điểu khiển chủ thể đối đáp, anh ràng buộc và điều khiển bằng cách tạo ra cho người nghe một vị thế văn chương nhất định, rồi đảm bảo cho vị thế ấy có một hiệu lực chắc chắn qua hình thức đã kiểm chứng về sự đón nhận của công chúng văn chương, nhằm làm cho người nghe tự tin phát ngôn về lịch sử của mình, về chính tư cách phát ngôn của mình. Nguyễn Đức Tùng tạo ra các nước đi linh hoạt, phát ngôn của anh một mặt bám sát câu chuyện của đối ngôn, mặt khác cũng nhanh lẹ điều khiển câu chuyện đó rẽ sang hướng khác, có lợi cho quyền năng kiểm soát và dự đồ của người hỏi. Tôi chuyển hoá đối tượng đọc và cách ứng xử trước đối tượng đó thành một sự nếm trải đặc biệt. Chúng ta thấy có nhiều điều đáng suy ngẫm được thể hiện trong các phát ngôn về sự đọc nhau của những người trong nghề, có thể quan điểm, tư tưởng cũng rất xa nhau. Nguyễn Đức Tùng đặt ra vấn đề “thơ cần thiết cho ai?” để tái xác nhận sự tự thú, tự khai, tự thuật của người cầm bút trước trang giấy. Đọc Nguyễn Đức Tùng sẽ thấy quan niệm của anh về ngôn ý, giọng nhịp của thơ.

Các phát ngôn của Nguyễn Đức Tùng soi tỏ được một số vấn đề quan trọng của thơ, của sự tiếp nhận và sáng tạo thơ. Tôi nắm bắt được mạch ý, tâm tình của Hoàng Cầm qua sự hình dung về độc giả tri âm và niềm hoài hương, sầu xứ. Tôi muốn dựng lại những biến cố đặc biệt đã được hợp thức bởi trò chơi quyết định luận, Tôi phát ngôn về tính hiệu quả của những khoảng trắng và nhạc âm ám ảnh trong thơ Hoàng Cầm. Các phát ngôn của Nguyễn Đức Tùng được tình thái hoá, người nói trình ra một trò chơi xúc xắc gây rối hệ thống, anh mô tả những giới ước của hiện thực, và một vài kiểu dạng tai biến, nghịch lí của nó để chờ đợi đối ngôn của mình biện minh, kiểm chứng hoặc đồng thuận, anh chú ý đến những khúc đoạn, những mảnh vỡ, những đắp đổi của một đời người, và một đời thơ. Chúng ta có cảm tưởng, đây đó trong các phát ngôn của Nguyễn Đức Tùng đã hàm chứa ý định muốn khơi dậy những gì bị đè nén, bị giấu kín, cả những bất đồng, những nghịch biện có thể sẽ được tạo ra một cách tức thời, qua hình thức tự bản thân đối ngôn nhận thức, phán xét về sự điều khiển, áp đặt của một loại quyền uy nào đó. Nguyễn Đức Tùng hiểu ở Hoàng Cầm có cả một thế giới vô thức ngấm ngầm hoạt động. Chẳng phải các phát ngôn của Nguyễn Đức Tùng, cho dù đi theo hướng này hay hướng khác, cũng hướng về môi trường sáng tạo, về những đại tự sự quy định trước sự sáng tạo của nhà thơ sao? Đọc Nguyễn Đức Tùng dễ thấy anh chủ đích phóng chiếu sự phân định trong sự đọc, sự hiểu nhau giữa các chủ thể ở các địa vực, các không gian vốn phải liền khối nhưng bị chia tách; anh muốn tạo ra sự chuyển dịch ngược, muốn nhận được những diễn giải thật rõ ràng, thẳng thắn về kẻ khác. Tôi “đọc” mình, đọc tâm trạng và cảm quan của cả một thế hệ qua các phát ngôn của đối ngôn. Tôi cố tình bày ra những đè nén và những vết thương tâm lí của chính mình qua câu chuyện tâm tình có tính chất đồng hành, tin cậy và chia sẻ. Đối ngôn của Tôi, dù ý thức được nhiều hay ít dự ngôn của người đối thoại, dù ý thức được hoặc không ý thức được một sự “gán cho” hoặc một kiểu “gài bẫy” nào đó, cũng bị trở thành phương tiện để hợp thức hoá một quá trình chuyển dịch ngược rồi. Chúng ta đọc thấy trong phát ngôn của Tôi một phản ứng tự vệ, một ám ảnh về “bối cảnh lâm nguy”. Nguyễn Đức Tùng phát ngôn về những vết xước, những chấn thương, ngôn ngữ của anh hoạt động trong những ranh giới nhưng lại muốn bứt ra khỏi những luật lệ của nó. Nguyễn Đức Tùng chắc hẳn đã có sẵn một hiện thực để quy chiếu cho mọi phát ngôn dự ngôn của mình, song anh cũng muốn các đối ngôn của mình tự nguyện đưa ra cái quy chiếu mà họ sở hữu, đưa ra những tình thế, hoàn cảnh mà họ bị quy chiếu, bị đặt thành “vấn đề”.

Chủ thể phát ngôn phỏng vấn phải liên tục điều chỉnh phát ngôn, thậm chí phải luôn chuyển động trong chính các phát ngôn của mình, anh ta buộc phải thay đổi lời phát ngôn, mở rộng đích hướng của phát ngôn để duy trì cuộc trò chuyện. Câu chuyện giữa Nguyễn Đức Tùng và Nam Dao chẳng hạn, chuyển điệu rất nhanh, mọi thứ, ở đó, đều có thể trở thành mồi cho câu chuyện. Chúng ta tưởng bất khả tiên đoán chủ đề của các phát ngôn, song bỗng nhận ra rằng Nguyễn Đức Tùng có mối quan tâm sâu sắc đến Nhân văn – Giai phẩm, đến các nhà thơ miền Nam hồi trước, mọi phát ngôn của anh đều dẫn đến đó, đều xoay xung quanh câu chuyện nhân văn, câu chuyện của một thế hệ, câu chuyện “đi tìm sự thực của lịch sử”, sự thật của chiến tranh. Ở đấy, rõ ràng, bên cạnh câu chuyện văn chương, học thuật còn có câu chuyện chính trị. Nói đúng hơn ranh giới giữa hai câu chuyện đó rất mong manh. Tôi đòi hỏi được nâng cao quyền lực phát ngôn của mình, các tri thức trong phát ngôn của Tôi được sinh ra và chuyển lưu bởi một thứ quyền lực bên ngoài. Nó muốn làm nổ tung cái sự thật được một nhóm người nào đó tạo ra trước đó qua con đường tạo ra một sự thực khác. Mọi phát ngôn đều nhân danh sự thật, nhân danh “văn hoá truyện kể”, nó đòi hỏi chính nhóm người bị lật nhào phải hợp thức hoá những quyết định của nó. Cả người phỏng vấn và người được phỏng vấn đều bộc lộ xu hướng “trích dẫn chính mình”, đều muốn được định nghĩa lại sự thật, định nghĩa lại các hiện tượng, các sự kiện văn chương, lịch sử.

Các phát ngôn trong phỏng vấn tạo ra cho mình một mã riêng, có quy tắc trò chơi riêng. Chúng luôn đòi hỏi những người tham gia trò chơi phỏng vấn phải hiểu nội dung các phát ngôn, và phải bộc lộ tức thời những dấu hiệu chứng tỏ sự hiểu đó để cuộc chơi được tiếp tục. Các chủ thể phát ngôn được bình đẳng về thẩm quyền, ai cũng có quyền bác bỏ vật quy chiếu do người khác đem lại, người nào cũng cần có sức đề kháng để có thể thoát khỏi chiến lược giao tiếp của người kia, nếu không vậy thì một trong số họ sẽ trở thành cái máy phát đơn thuần. Nguyễn Đức Tùng muốn định vị Trần Hữu Dũng trên quỹ đạo vòng tròn của thơ Việt Nam, anh trình ra bằng chứng có sức thuyết phục về giọng điệu và hương vị thơ Trần Hữu Dũng. Chủ thể Tôi đặt ra vấn đề bản lĩnh và nhân cách của người cầm bút, Tôi nói về cái chết sinh ra thơ, sinh ra sự sống; nói về sự kháng cự và dấn thân của nhà thơ trong cuộc sáng tạo vô tăm tích. Chúng ta đọc được mối mất hoà của nhà thơ, đọc được cả sự khiêu khích trong các quan điểm của họ, cái quan điểm có lẽ đã thuộc về số đông, về một nhóm người nhưng lại được gán cho kinh nghiệm cá nhân. Đọc Nguyễn Đức Tùng cũng có thể nhận thấy một điều rằng, anh muốn xác lập tiêu chí thơ hay, muốn cải thiện thẩm quyền phát ngôn về thơ hay; anh phát ngôn trên vị thế và cảm thức của một người hải ngoại, ý thức phân biệt giữa “bên trong – bên ngoài”, cho dù đã được bảo đảm thông qua dự đồ hoà giải, vẫn hiện lên rất rõ trong nhiều lời nói. Nguyễn Đức Tùng nhấn mạnh “thơ Việt đầy rẫy sự giả dối”, anh dùng chính định nghĩa về thơ hay của mình để đánh giá cách tuyển thơ ở trong nước. Ở điểm này, chúng ta thấy, đôi chỗ cuộc đối thoại tay đôi được hợp nhất lại thành một tiếng nói phán truyền các sự thể, phán truyền tương lai của một nền thơ, số phận của một dòng thơ nào đó, chỉ tiếc nỗi chưa có gì đủ để đảm bảo cho cái quyền được ra quyết định của họ.

Chủ thể phỏng vấn tạo ra ngữ cảnh và trao thẩm quyền phát ngôn cho người đã ở “trạm nghe”, người ta chỉ được nói khi đã đóng vai nghe và được trao thẩm quyền. Nguyễn Đức Tùng tạo ra cái khung cho câu chuyện, anh đặt ra vấn đề tác động của thơ nước ngoài đến thơ Lê Đạt, rồi thông điệp của Lê Đạt gửi các nhà thơ trẻ, quan niệm, diễn giải của Lê Đạt về thơ. Tôi hướng phát ngôn đến những bước chuyển quan trọng của Lê Đạt, và của thơ ông. Có một tấm lòng chia sẻ, cảm thông của Tôi trong các phát ngôn đối thoại. Tôi nêu rõ chính kiến của mình về tranh luận văn học, về không khí sinh hoạt văn chương. Tôi muốn cấu trúc lại hiện thực và tạo ra một xạ ảnh về sự kiện Lê Đạt và Hoàng Cầm nhận giải thưởng Nhà nước. Nguyễn Đức Tùng muốn tạo ra một sự hoà hợp trong sáng tạo và tiếp nhận văn học, trên cơ sở đó anh muốn được định nghĩa và xác lập lại giá trị của hai dòng văn học: văn học miền Nam trước 1975 và văn học ở hải ngoại sau 1975.

Cuộc trao đổi giữa Nguyễn Đức Tùng và Ngô Tự Lập, đặt ra các vấn đề về phương pháp sáng tác, về chức năng của thơ, trách nhiệm công dân của nhà thơ và vị trí của thơ hải ngoại ở trong nước. Cuộc trò chuyện gián cách giữa Nguyễn Đức Tùng và Nguyễn Thế Hoàng Linh đặt ra một góc nhìn về vị thế của thơ lục bát, về khả năng phản ánh và nhu cầu nội tại của thể loại này trong chiều hướng thơ hiện nay, các câu hỏi “con đường thơ Việt Nam hiện đang dẫn chúng ta về đâu?”, “các nhà thơ Việt Nam hiện đang thiếu gì?”, “thơ hiện nay có lẩn tránh hiện thực không”…đều có ý nghĩa thời sự và phản tỉnh. Nguyễn Đức Tùng ưa định vị, tổng kết, thiên về khái quát, nhận diện, cả sự đoán định tương lai của thơ, các câu hỏi của anh đều tập trung làm nổi rõ những mạch ý tưởng đó. Cuộc đối đáp giữa Khải Minh và Nguyễn Đức Tùng chẳng hạn. Nguyễn Đức Tùng nêu vấn đề “Thơ Việt Nam hiện nay đang ở đâu?”, “Anh nghĩ sao về thơ Tân hình thức Mỹ và Việt Nam”, “Theo anh tương lai của nó sẽ như thế nào?”, “các nhà nghiên cứu phê bình thơ Việt Nam có thể đóng góp được gì cho sự phát triển thơ ca?”… Chúng tôi hiểu, các câu hỏi của Nguyễn Đức Tùng đều dành chỗ cho những chủ kiến được bộc lộ, đều chú ý phát huy sở trường và tập hợp được cá tính riêng của mỗi người tham gia phỏng vấn. Nguyễn Đức Tùng chịu đọc, đọc để hiểu cái khác, đọc để phá bỏ cái nhìn toàn trị, sự đọc ở Nguyễn Đức Tùng đồng nghĩa với sự thừa nhận nỗ lực sáng tạo của người khác, anh đã “thuộc” đối tượng phỏng vấn của mình. Sự lặp lại câu hỏi trong một số ngữ cảnh, cho thấy Nguyễn Đức Tùng luôn cố gắng đi tìm những định nghĩa mới, luôn muốn định nghĩa lại mọi hiện tượng, khái niệm. Cuốn sách của Nguyễn Đức Tùng thoát khỏi sức ép biên tập của hệ tư tưởng cũ, nó chọn hình thức tự phá huỷ các giới hạn, nó tôn trọng tất cả những cái riêng biệt, nó không tuyên bố và áp đặt thuyết giá trị độc tôn. Thơ đến từ đâu chấp nhận mọi ý tưởng sáng tạo. Do đó, ngay cả khi trang sách cuối cùng được khép lại, chúng ta vẫn thấy có một “khoảng trống”, một khoảng trống để các trật tự và nguyên tắc biến mất, một khoảng trống cho những quyết định hợp lí và tự do của mỗi độc giả.

Thơ đến từ đâu tạo ra được nhiều cách nhìn, cách tạo nghĩa về tình trạng của thơ Việt hôm nay. Nguyễn Đức Tùng sống cùng văn chương đương đại, đem lại cho chúng ta một tiếng nói cởi mở về thơ trẻ, về những thể nghiệm cách tân. Anh đã dẫn gợi các đối ngôn của mình tạo ra một thế giới giá trị, tạo ra các thông tin có thể phá huỷ một lối lí giải hời hợt về thơ hải ngoại, có thể chống sự độc quyền về ý nghĩa. Thơ đến từ đâu, trong dự án tương tác của nó, đã tập hợp được đội ngũ những tác giả chẳng những sáng tác thơ mà còn có khả năng trình ra một chút lí thuyết về nó, chẳng những chống lại sự phân hoá về mặt văn hoá mà còn sử dụng ngôn ngữ để tạo ra một quyền lực về thi ca, ở đây chúng ta có thể nói đến một sự “gây sự” có ích hoặc một sự tạo ra thông tin và truyền thông của một kiểu giá trị – cá tính. Thơ đến từ đâu đi tìm một sự cân bằng, một sự hòa giải, một bối cảnh mới cho những dự án về những cái có tính thơ được thực thi. Thơ đến từ đâu tạo ra một lược đồ về lao động thơ, tạo ra một thứ kính vạn hoa về sáng tạo và các vấn đề có quan hệ trực tiếp đến nó.

Những phát ngôn đáp trả

Chủ thể của những phát ngôn đáp trả, bao giờ cũng được giả định rằng họ có thẩm quyền phát ngôn, có thẩm quyền trong lĩnh vực mà người hỏi đề cập. Chính ở điểm này, chúng ta thấy sự hiểu biết về một điều gì đó… của người nói bị đặt thành một vấn đề, một điều kiện đảm bảo tư cách phát ngôn. Các phát ngôn đáp trả có chức năng cắt nghĩa, giải thích các sự kiện, các “hiện tượng” có thể trở thành mối quan tâm của nhiều người, hoặc chí ít cũng đang trở thành mối quan tâm của các đối ngôn. Các phát ngôn đáp trả còn có chức năng tạo hình cho chủ thể của nó. Đọc phỏng vấn, chúng ta đọc thông tin, đọc chủ kiến, đọc tri thức do sự phỏng vấn tạo ra, sau đó mới đọc các cách nói, các cách điều chỉnh phát ngôn cho hợp ngữ cảnh. Chúng tôi không nói đến các chủ thể ở bên ngoài phát ngôn đáp trả. Chúng tôi nói đến cái Tôi phát ngôn, cái Tôi trong sự hành chức của chúng. Dưới đây chúng tôi nói về cuộc đối thoại giữa bên trong và bên ngoài, cuộc đối thoại của những tư tưởng, những chính kiến, chủ kiến…

Nguyễn Đức Tùng nói về cảm giác tha hương, về cảm giác muốn quy cố hương của người Việt ở hải ngoại. Hoàng Cầm chia sẻ cảm giác bơ vơ có ở những người lưu vong, trân trọng tình yêu tiếng Việt, sự quấn quýt với cái hồn Việt Nam ở họ, ông đề cao sự ràng buộc, gắn bó giữa người trong nước và người ở hải ngoại, người Bắc và người Nam; Hoàng Cầm đã cắt nghĩa sự gắn bó của con người Việt Nam ở mọi nơi bằng tất cả những gì gần gũi, quyến thuộc, thiêng liêng nhất, ông nói đến “máu huyết của chúng ta”. Nguyễn Đức Tùng đặt vấn đề về sự đứt đoạn, gãy đứt trong văn hoá Việt Nam, trong thơ; Hoàng Cầm nhấn mạnh sự thống nhất của dân tộc, đến “cái nhất điểm của tâm hồn”, đến sự cần thiết phải đọc lẫn nhau, tìm hiểu lẫn nhau giữa các các nhà văn Việt Nam. Hoàng Cầm đề nghị nhà thơ cần tạo ra cái hiện thực thứ hai để sống, viết và làm thơ, nhà thơ cần sẵn sàng thay đổi môi trường của mình để được sống đúng mong muốn, thơ đến từ sự thật, từ những xúc động thật. Nguyễn Đức Tùng và Nam Dao đặt ra và lí giải vấn đề sự thành bại của dân tộc, muốn rút ra bài học để kể lại cho thế hệ sau, Nam Dao muốn “góp tay vun trồng nền văn hoá” dân tộc, thơ đến từ cảm xúc, và bản lĩnh cách tân, Nguyễn Đức Tùng muốn “đi tìm sự thật bị chôn vùi dưới các tầng đất, sự thật của cuộc chiến tranh vừa qua và các tội ác đối với dân tộc, các hài kịch và bi kịch của từng gia đình”, thơ đến từ bản lĩnh khai vỡ hiện thực, khai vỡ sự thật được giấu kín. Nguyễn Đức Tùng nhắc đến các cuộc tranh luận gay gắt, các diễn đàn bị kiểm soát gắt gao, Lê Đạt chủ trương “có sự hoà thuận” giữa người trong nước và hải ngoại; Nguyễn Đức Tùng nói về thực tế các giả miền Bắc không quan tâm văn học miền Nam và hải ngoại, Lê Đạt cắt nghĩa điều kiện chính trị và lịch sử để khẳng định rằng, mặc dù chưa đọc nhiều, chưa viết về họ nhưng vẫn có sự thừa nhận nhau, kính trọng và quan tâm đến nhau. Du Tử Lê đặt ra vấn đề làm thể nào để các nhà văn miền Bắc và miền Nam, trong nước và hải ngoại hiểu biết nhau, Lê Đạt cho rằng “cần phải mở rộng quan hệ, trao đổi, vượt qua các thành kiến…và bám sát tác phẩm”, Thanh Thảo: “chúng ta phải loại trừ những rào cản về chính trị và do chiến tranh không đáng có”…

Tóm lại sự hòa giải, hóa giải đến từ đâu? Chúng ta quan tâm Thơ đến từ đâu hay sự hóa giải, hòa giải đến từ đâu. Đọc Thơ đến từ đâu chúng ta thấy các tác giả ở hải ngoại nói về những khoảng cách, những chia li, những bất đồng chính kiến… đang tồn tại trong cuộc sống hôm nay hay chính họ đang thực hiện một cuộc truy tìm cội rễ của sự hoà giải, hoá giải. Câu hỏi Thơ đến từ đâu chưa thật được chú trọng, ở nhiều chỗ, cuốn sách trở thành sự phán xét tập thể về nền thơ Việt hôm nay. Thơ đến từ đâu đề cao sự cách tân, đổi mới có tính chất bước ngoặt của một dòng thơ, một nhóm thơ, một kiểu thơ. Ở Thơ đến từ đâu chỉ có hai bước ngoặt lớn: thơ của nhóm Nhân văn Giai phẩm và thơ của hải ngoại sau 1975, còn mọi thứ đều trở nên rất bấp bênh và mong manh; mọi tuyên bố bảo lãnh cho thơ trẻ cho dù được láy đi láy lại nhiều lần, rốt cuộc cũng chỉ có ý nghĩa tượng trưng; chúng ta thấy có vẻ quyền lực phát ngôn về thơ và sáng tạo ra “thứ thơ đích thực”, “thứ thơ đáng đọc nhất” chỉ thuộc một số người, những người chịu ở “đầu sóng ngọn gió”, còn lại thì giả và diễn hết. Thơ đến từ đâu tạo ra một loạt phát ngôn về cái giả, cái thiếu; mà dấu hiệu của những cái giả, cái cũ đó lại do những người “nói thật”, những “người đã cách tân” đặt định rồi sử dụng để phân biệt các loại thơ, thậm chí gạt ra bên ngoài những cái không thơ chút nào. Cuốn Thơ đến từ đâu trở thành một sự kiện thu hút sự chú ý của độc giả, theo nghĩa, nó đã không dừng lại ở các vấn đề của chính bản thân thơ nữa. Nó trở thành sự kiện thời sự bởi nó đã đi ra ngoài thơ, ngay câu hỏi của cuốn sách, đã cho ta thấy điều này. Thơ đến từ đâu tạo ra một cuộc giải thích và diễn dịch về lịch sử, về quá khứ, chiến tranh, về sự hòa giải cần có. Câu hỏi Thơ đến từ đâu trở thành một sự bất khả xác quyết, mỗi người có một cách lí giải, theo nghĩa họ đã sáng tác ra sao, ảnh hưởng ai và thế nào. Câu hỏi Thơ đến từ đâu chỉ có thể trở thành một xác tín, mọi người sẽ có nhận định gần nhau hơn, một khi chúng ta thừa nhận trước tiên rằng thơ đến từ tự do và không đến từ sự kiểm duyệt. Thơ đến từ đâu “không đưa lại một hoà điệu mới” về văn học, mà đưa đến các câu hỏi, nó đặt lại các vấn đề về thơ, các giá trị của thơ và sự hợp thức hoá nó, cùng sự hoà hợp ở bên ngoài thơ. Thơ đến từ đâu mang theo trong hành trang của nó quan điểm chính trị của một nhóm người, của các cá nhân sáng tác, do đó, nó có tham vọng định nghĩa lại một cách cơ bản nền văn học Việt Nam nói chung, nền thơ Việt hiện đại nói riêng, trên cơ sở đó, cuốn sách có ý hướng tạo ra một thẩm quyền lượng giá các tác phẩm văn học. Tôi nghĩ, trước câu hỏi Thơ đến từ đâu, nếu chúng ta chưa thoát được một sự định nghĩa của nhóm phái nào đó hoặc chưa được trả lời theo cách của một người tự do sáng tác, tự do tạo nghĩa cho đời sống văn chương của mình, chắc sẽ bị bóng của các các phát ngôn về đổi mới, về công cuộc kiếm tìm cái thơ nhất… đè xuống. Sau câu hỏi Thơ đến từ đâu, và có lẽ cho đến lúc này, tôi thích câu hỏi Thơ cần thiết cho ai của anh hơn cả.

 

 

 

.

bài đã đăng của Trần Thiện Khanh


4 bình luận »

  • Tôn Thất Thái Dương viết:

    Cứ xem cái cách Trần Thiện Khanh tránh nhắc tên Nguyễn Viện, Thận Nhiên, Nguyễn Đăng Thường… làm như các nhà thơ này không có mặt trong sách, hay chẳng nói được điều gì đáng kể.
     
    Chỉ một thái độ như vậy thì cũng đủ để người đọc hiểu bản chất của cái hệ thống lý sự nhằm dẫn tới cái gọi là “hòa giải”.

  • Hoàng Lan viết:

    Hãy bỏ qua những dẫn dụ của Nguyễn Đức Tùng ( một cách rất chủ quan, không đáng quan tâm ), tập Thơ Đến Từ Đâu còn lại chỉ là một ít tư liệu, giúp người đọc hiểu về một số tác giả được phỏng vấn. Việc khai thác  tập tư liệu này là thuộc về người đọc. Rất tiếc là người ta chỉ khai thác tập tư liệu này về mặt chính trị , khiến cho Nguyễn Đức Tùng không cần quảng cáo, cũng nổi như cồn. Trước đây, trong điều kiện tiếp cận tác giả tác phẩm còn khó khăn thì tập tư liệu này còn có được một ít giá trị. Bây giờ người đọc có thể trực tiếp tác phẩm cuả các tác giả, thì tập sách của Nguyễn Đức Tùng chỉ còn là ý kiến đóng góp của một cá nhân người đọc, như bao nhiêu người đọc khác, vậy thôi.

  • Phan Đức viết:

    Sau đây là những cảm giác chủ quan của tôi,không hề có “ý đồ” nào cả,do
    đó xin … quần hào đọc qua rồi xem như đồ bỏ ! 
    Đọc một bài viết thật kỳ lạ 
    không hiểu sao tai lại nghe những âm thanh hỗn độn đến quái đản
    tiếng rổn rảng của chiêng trống phèng la
    tiếng lách cách của vũ khí
    tiếng lổn nhổn lạo xạo của sỏi đá
    tiếng lộp cộp những giày đinh một thời nô lệ tưởng đã đi xa …
    Nghe kỹ thì ra
    tiếng hô hoán của một nhà phù thủy điều khiển âm binh
    Sợ nổi da gà !
    Khiếp !

  • phan ngọc viết:

    Bài viết hay, có tư tưởng riêng , mà hơi văn cũng lạ .
    Gợi nhiều vấn đề: đối thoại văn học , văn học & lịch sử, văn học miền Nam, Nhân văn.
    Đọc một lần tôi hơi khó thụ đắc, phải đọc vài lần.
    Tại văn phong tác giả hay tại mình chưa quen ?

    Dù sao cám ơn phê bình gia Trần Thiện Khanh.
    Mong ông viết nhiều cho các báo như Da màu, nơi tôn trọng độc giả.

    Dịp khác sẽ thưa chuyện nhiều.

    Phan Ngọc .

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)