Trang chính » Giới thiệu tác giả, Phỏng vấn, Quan Điểm, Tư Liệu Email bài này

ĐẦU NĂM, HỎI CHUYỆN NGƯỜI BẠN CŨ

 

 

Trước tiên, xin cám ơn diễn đàn Da Màu đã tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện cuộc trao đổi này. Cũng nhờ Da Màu, chúng tôi mới bắt được, nối kết lại được "sợi giây" vốn mong manh, dễ thất tán giữa những người cầm bút – tạm gọi là tình văn nghệ, ngoài đất nước.

Giờ này, một người ở châu Âu, kẻ ở Bắc Mỹ đang "nối mạng", chia sẻ những ý nghĩ vụn vặt, loanh quanh về cái món mà tiền nhân gọi: "Rẻ như bèo"…

Hồ Đình Nghiêm

 

clip_image002

Ngô Nguyên Dũng (2007)

 

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Tạp chí Văn Học số Tết Kỷ Tỵ 1989, trong tựa đề "Nhìn lại tình hình sách vở của năm 1988"; Bùi Bảo Trúc có đoạn viết: "… Ngô Nguyên Dũng rời Việt Nam năm 18 tuổi, sống ở ngoại quốc 18 năm. Một nửa đời ở trong nước, lớn lên với tiếng Việt. Một nửa đời đi học, sống và viết ở một nơi không có tiếng Việt. Một nửa đời sau của ông vẫn ngoái lại nhìn nửa trước. Vẫn luyến tiếc nửa đời trước, và vẫn không rời nửa trước…". Sau những thăng trầm, bây giờ nhìn lại, anh nghĩ gì về những nhận xét thuở ban đầu ấy. Anh có điều gì cần bổ sung?

Ngô Nguyên Dũng (NND): Bây giờ, năm 2010, không còn là 18 mà đã ngấp nghé 40 năm tôi xa xứ rồi anh ạ. Bấy nhiêu năm dâu bể trong đời sống, tôi vẫn kiên trì dong ruổi đoạn đường văn chương, vẫn vừa đi vừa ngoái lại, như anh Bùi Bảo Trúc đã nhận định trong… thế kỷ truớc, nhưng không phải "nửa trước" mà là mấy chục lần cái "nửa trước". Ngoảnh đi ngoảnh lại, tóc đã thưa sợi và muối nhiều hơn tiêu. Để rồi, như một cách bào chữa cho "cái tội" may mắn được sống tại một đất nước thanh bình, phồn vinh thật sự chứ không giả tạo, tôi… chạnh nghĩ, khi những ai xông xáo viết về những kinh nghiệm, chính họ chưa từng trải qua, là một thách đố lớn. Cũng "lớn" như chuyện tôi đang dọ dẫm, tìm cách… cọ xát, tiếp cận với văn học bản xứ: tự chuyển dịch những trước tác và thỉnh thoảng tí toáy sáng tác bằng ngôn ngữ bản xứ là việc làm của tôi hiện nay.

HĐN: Thời điểm đó anh đã có tập truyện "Dòng Chữ Tâm Tình" do nhà Văn Nghệ in và phát hành. Giai đoạn ấy, nhiều người đã lạc quan, tin vào sự khởi sắc của dòng văn học lưu vong. Lê Thị Huệ, Trần Diệu Hằng, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Hoàng Bắc… Những người viết mới hầu như ai cũng có sách trình làng. Thử nhớ lại, thời gian cũ, ngày ấy anh có mang một niềm kỳ vọng?

NND: Câu hỏi của Anh chỉ đề cập tới các cây bút nữ giới, làm tôi… băn khoăn. Nam giới, trong thời cực thịnh của dòng văn học Việt Nam lưu vong, thời "trăm hoa đua nở, nhà nhà chong đèn thâu đêm để viết văn làm thơ", cũng có nhiều người viết đặc sắc lắm chứ. Tôi (còn) thích viết và cho đó là nghiệp dĩ, là "món nợ vay mượn từ kiếp nào, của ai ở đâu không biết, mà kiếp này, tự mình biết thân biết phận mà trả, dù chẳng ai đòi". Có nên gọi đó là hoài bão hay kỳ vọng? Chắc không phải. Mà đúng hơn, phải là "kỳ quan": một quan niệm kỳ cục. Hay lông bông triết lý theo đông phương tính để luận bàn về nỗi thăng trầm của dòng văn học Việt nam lưu vong: không có gì trên đời này thịnh hoài mà không có lúc suy và ngược lại. Hoặc… cao cấp hơn vài bậc: mục tiêu chính là con đường chúng ta đang đi!!!

HĐN: Tại sao dần dà chúng ta chẳng còn thấy tăm hơi của họ? Anh có ngạc nhiên không? Điều gì đã cướp mất lòng đam mê của họ đối với văn chương? (Sinh kế, lập gia đình, đời sống trên đất tạm dung, ý thức về sự vô bổ của cuộc chơi?) Mang họ mỗi lúc một xa chúng ta. Nhận chìm họ giữa thế giới rộng lớn này.

NND: Theo "kỳ quan" của riêng tôi thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Những người viết khác vì nợ nần ít, nên trả xong sớm hơn tôi. Xong sớm, nghỉ sớm. Còn như, nếu họ về hưu non vì lý do bí ẩn nào khác, phải chính họ trả lời, mới vỡ lẽ, anh ạ. Kiếp người, theo tôi, tự nó đã là một "cuộc chơi vô bổ", bởi vì "sống để làm gì, trong khi ai cũng phải chết"??? Câu triết lý này nghe hơi sáo, nhưng nhất định không bi quan yếm thế và… rẻ tiền. Bởi vì có nghĩ như vậy, người ta mới nhận ra những gì cần và phải thực hiện trong đời sống này, trước khi… giao thoa với cái chết. Tôi cũng không muốn lặp lại câu sáo ngữ của nhiều người ở tuổi cổ lai hy: Nếu cho tôi làm lại từ đầu, tôi sẽ làm y như vậy! Mà, lỡ như tôi có được cơ hội bắt đầu làm lại, nhất định tôi sẽ làm khác: không viết văn làm thơ gì cả, mà sống hết mình theo bản năng như một người bình thường và tầm thường. Không phải học hành chi cho nhiều, để khỏi rơi vào trường hợp như tôi hiện nay: thỉnh thoảng lại ngủ thấy ác mộng, ngày thi cận kề mà chưa sửa soạn gì ráo. Và cuối cùng là một lời khẩn cầu: trời ạ, xin cho con kiếp sau đầu thai tại một đất nước không có nhiều tai ương.

HĐN: Cá nhân tôi, khi đọc truyện Ngô Nguyên Dũng, cái mà tôi nhìn thấy trước tiên, đó là một ngòi bút giàu cảm xúc, nhiều suy tưởng. Rất nhạy cảm, nhưng luôn tự kềm chế bằng những biểu hiện chừng mực. Tựa như anh đang đối thoại với ai đó, tôn trọng họ, để chẳng nói ra những lời khiếm nhã. Điều ấy khiến khí hậu trong truyện anh có vẻ ôn hòa, gần như đằm thắm, chẳng nóng chẳng lạnh. Nói một cách hàm hồ, đó là thứ bút pháp kén người đọc. Anh nghĩ sao? (Tôi hơi chủ quan. Chủ quan thường vấp phải sự lệch lạc).

NND: Chuyện "nóng lạnh", "thời tiết" cùng "mùa màng" của chữ nghĩa là những ý niệm rất chủ quan. Viết là một động tác chủ quan đa luỹ thừa, vì là một hiện tượng dan díu tâm lý câm giữa người viết và khối độc giả thầm lặng, mang tính tương đối như bản ngã của mỗi người chúng ta. Thế nên, không có chuyện đúng đắn hay lệch lạc trong thơ văn. Cá nhân tôi thích đọc những trang sách không có nhiều hình ảnh và ý tưởng cực đoan, nếu được gói ghém thêm một vài tư tưởng triết học đông phương, càng tốt. Đọc như thế nào thì viết như vậy. Hay bóng bẩy mà nói, viết là dương bản của âm bản đọc. Thành thử, nếu bút pháp tôi kén độc giả, hay trắng trợn (không phải trợn trắng) mà phán: "Văn sĩ viết kiểu gì, đọc bắt nóng lạnh!", cũng không có gì khó hiểu.

HĐN: Truy cập vào diễn đàn Da Màu, đọc những trích đoạn trong tiểu thuyết của Lê Thị Thấm Vân, tôi choáng váng. Chắc anh cũng có đọc? Thấm Vân là người sẵn lòng, chẳng ngại ngần đạp đổ những chướng ngại. Tôi nghĩ vậy. Cô đi mạnh dạn, xông xáo đi. Vừa đi vừa tự khỏa thân trước đám đông… Sở dĩ tôi nhắc tới nhà văn nữ ấy vì tôi nghĩ nó hoàn toàn khác biệt với bản tính hiền hòa, cẩn trọng của anh. Ngang đây, chắc anh sẽ bộc lộ ít nhiều về quan niệm sáng tác của anh.

NND: Tôi chưa và nghĩ rằng, khó lòng đọc trọn một tác phẩm của nhà văn Lê Thị Thấm Vân. Cách dụng ngữ của chị trong những tác phẩm sau này không hợp với khiếu thưởng ngoạn văn chương của tôi. Cũng cần nói thêm, những gì tôi tình cờ đọc được của chị chỉ là những tiểu tiết của một tổng thể, một thứ tổng thể có khuynh hướng "đạp đổ những chướng ngại" rất tích cực mà cũng rất dễ gây ngộ nhận và phản cảm nơi nguời đọc. Vì nếu không có gì để khoa trương, thì hành động "tự khoả thân trước đám đông", ngôn ngữ hiện đại gọi là "bày hàng", sẽ hoá thành tiêu cực. Và, không khéo, những thông điệp cao cả sẽ sa lầy vào ao tù dung tục của chữ nghĩa. Tôi cũng thích và có viết về những đề tài cấm kỵ đó chứ, nhưng vì kém tài nên không đạt tới mức độ cực "nóng" như chị. Theo tôi, không phải Lê Thị Thấm Vân tự khoả thân, mà chị chỉ muốn "lột trần chữ nghĩa": một cách viết khôn khéo theo khuynh hướng tân hiện thực, là thứ văn phong mà tôi không có.

HĐN: Tôi nhớ lại, cách đây e có hơn mười lăm (15) năm, nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến từ Pháp du ngoạn sang Montréal. Tôi có gặp chị ấy, chuyện trò chẳng nhiều nhưng câu nói của chị tôi còn nhớ: "… Chỉ có người Bắc với dân miền Trung mới viết văn làm thơ thôi. Người Nam hả…". Chị không trình bày hết ý. Chị ấy luôn dễ thương và tôi đã không phản bác: Thơ Tô Thùy Yên tuyệt hay. Lãnh vực truyện dài truyện ngắn có Bình Nguyên Lộc, Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng… Anh là người Nam, anh nên nói đôi điều, biết đâu chị Phan Thị Trọng Tuyến cũng đang theo dõi câu chuyện của chúng ta.

NND: Tôi không để ý nhiều tới xuất xứ của người viết. Văn chương ai hợp với "tạng đọc" của tôi thì tôi thích. Tuốt bên Tây, ông Proust chỉ cắn mẩu bánh Madeleine mà cả quá khứ ngàn trang lũ lượt hiện về. Ở châu Mỹ La-tinh, ông Márquez kể một chuyện tình trải qua bao nhiêu thăng trầm thổ tả, tới tuổi gần sụm bà chè, chàng và nàng mới tái hồi duyên cũ. Ngoảnh về phương Đông, ông Kawabata cứ nâng niu tách trà chưa phai dấu son kỹ nữ từ đời cha tới đời con, còn đậm đà ký ức trên tà áo ngàn cánh hạc. Ở ta, khi ông Võ Phiến bắt được tiếng rao hàng trong xóm nghèo hay ngóng tai nghe được phương ngữ nào "ngộ quá chừng" là tuôn ra tuồn tuột bao nhiêu trang tuỳ bút trác tuyệt. Tôi xin được phép sửa lại lời của chị Phan Thị Trọng Tuyến: "Ðâu phải chỉ có ông Tây, bà Đầm, ông Mỹ, ông Nhật mới viết được vậy, còn người Việt mình hả…?" Cách nói của chị Trọng Tuyến nghe có vẻ như man mác mặc cảm tự ti… Hay chị chỉ có ý bông lơn khiêm tốn chăng? Tại sao chúng ta không thử đánh giá tác giả và tác phẩm như là "tài sản chung của nhân loại", mà mỗi sản phẩm điểm xuyết một vài đặc điểm do bản sắc sinh quán. Có như vậy, công bằng hơn chăng? Ngoài ra, cách phân biệt người viết miền này miền kia hình như chỉ thấy hiện hữu trong ý thức của người Việt mình, thì phải?

HĐN: Có phải chúng ta – những người viết – vì bất tài, đã làm thất vọng số đông người đọc khiến họ lơ là, không mặn nồng với văn chương tiếng Việt? Hay (tự an ủi) những người trẻ đã quên dần tiếng mẹ đẻ. Đọc mấy chú mấy bác mấy cô mấy dì viết, chúng em chả hiểu… hết chơn hết chọi! Tới đây, tôi nhớ lại, thời sinh tiền, nhà văn Mai Thảo có lần nói với tôi: "Thế hệ các cậu quả có thiệt thòi. Ngày xưa, khi tới giảng đường, ngoài sách vở, sinh viên thời đó luôn ôm vào lòng họ những cuốn Để Tưởng Nhớ Mùi Hương, Mười Đêm Ngà Ngọc…". Tôi muốn hỏi: Sự ghẻ lạnh ở phía người đọc, hôm nay, phát xuất từ đâu? Phiên chợ mỗi lúc một thưa bóng người!

NND: Tài năng, theo tôi, một phần do bẩm sinh, phần khác nhờ môi trường phát triển. Các tác giả Việt nam chịu nhiều thiệt thòi, vì "bị" sinh nhằm quốc gia nhược tiểu, sử dụng một ngôn ngữ có tầm mức phổ biến rất hạn chế, nên tác phẩm của họ không được các cộng đồng văn hoá khác quan tâm đúng mức. Còn sự thờ ơ, ghẻ lạnh của người đọc ư? Tôi nghĩ, ở ngoài nuớc bắt nguồn từ vấn đề ngôn ngữ của người đọc và những xung đột nội tâm của người viết về mục đích của văn nghiệp, ở trong nước từ điều kiện sáng tác và nhu cầu mưu sinh. Để giải quyết một vài khó khăn này, không thuộc trách nhiệm của người viết. Thôi thì, ai còn đôi chút nợ nần, đam mê với chữ nghĩa, cứ tiếp tục; người nào không còn, gác bút về hưu. Không biết suy nghĩ của tôi có khác thường không, khi cho rằng, viết là một cách tự giải toả những ẩn tình cần tâm sự cùng những người không quen biết.

HĐN: Anh nghĩ sao về trường hợp Trần Vũ? Theo chỗ tôi được biết, một số truyện nghiêng về lối viết táo bạo về tình dục của vài nhà văn nữ đều có bàn tay của cậu ấy nhúng vào khi còn ở dạng bản thảo.

NND: Vì không nắm được dữ kiện chính xác, nên tôi xin dành câu hỏi này cho Trần Vũ trả lời, là người trực tiếp "nhúng tay", và vài nhà văn nữ có tác phẩm được anh ấy nhúng vào… biên tập, hẳn là đúng đắn hơn. Riêng "trường hợp Trần Vũ", quả là một tài năng hiếm có của văn đàn Việt nam. Hy vọng anh vẫn tiếp tục sáng tác, chứ mải nhúng nheo vào lọ mực của các nhà nữ, e rằng, sẽ có lúc tài năng mai một mất. Uổng lắm!

HĐN: Anh có theo dõi sinh hoạt những người viết lách ở trong nước không? Cảm nhận của anh về họ, về cái lối đi lắc léo mà người ta gọi là lề trái lề phải gì đó. Hình như họ cũng gặp "sự cố": Chả có ma nào thèm đọc! In 1000 cuốn để đáp ứng cho một đất nước luôn báo động nạn nhân mãn. Luôn kế hoạch hóa, ngăn ngừa chuyện sinh đẻ!

NND: Tôi theo dõi sinh hoạt văn chương trong nước qua một vài diễn đàn ở ngoài nước, có nghĩa rất hạn chế. Nhưng tôi rất cảm phục những người viết ở trong nước, dẫu chịu áp lực từ nhiều phía, cứ ngang nhiên tự tại dấn bước bên "lề trái". Điển hình là các tác giả thuộc nhà xuất bản Giấy Vụn, Mở Miệng ở Sài gòn. Thật ra, ở đâu, dưới bất cứ chính thể nào, cũng có hai thành phần nói trên. Có điều, hành trình bên lề trái của những nguời cầm bút và không cầm bút trong hoàn cảnh hiện nay tại Việt nam, quả là hành động dấn thân đáng khâm phục. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp can đảm lắm chứ, khi lên tiếng mắng Hội Nhà Văn ở xứ ta là tập hợp những kẻ vô học, sau đó tiếc quá, lại không thấy sáng tác gì thêm. Nhà văn "giặc cái" Dương Thu Hương, sau khi lưu vong tại Pháp, viết tiểu thuyết "Chốn vắng", dịch sang Pháp ngữ với nhan đề "Terre des Oublis" lọt vào Top Ten sách Bestseller năm 2002, tôi chưa có dịp đọc. Nhà văn Phạm Thị Hoài, một cây bút có tác phẩm được dịch sang Đức ngữ, cùng bạn hữu trầy vi tróc vẩy nhẫn nại bảo vệ thành trì Talawas, một vi báo thời sự chính trị làm nhà nuớc và các thành viên lề phải nhức đầu không ít. Còn "sự cố: Chả có ma nào thèm đọc!" trong sinh hoạt văn chương ở trong nước, có lẽ cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, để tìm ra nguyên nhân. Tạm thời, chúng ta thử lên tiếng đề nghị nhà nước phát động phong trào tân kế hoạch hoá gia đình, bằng cách hô hào phụ nữ mua một quyển sách, của Giấy VụnMở Miệng càng tốt, với giá thân hữu, đem về kẹp giữa hai đầu gối chăng? Một công hai chuyện.

HĐN: Nhà văn hầu như ai cũng cần kinh nghiệm sống, sự từng trải và trình độ học vấn. Ở một nơi bị ngăn chận, bưng bít thông tin như Việt Nam tại sao lại lòi ra một Nguyễn Ngọc Tư? (Một cô gái quê chẳng có lắm kiến thức). Sự hồn nhiên có quan trọng không, ở lãnh vực viết văn?

NND: Theo tôi, viết văn làm thơ là một trò xảo thuật bằng chữ nghĩa. Vì vậy, trước tiên, cần phải biết… đọc và viết cái đã. Còn mấy chuyện "kinh nghiệm ", "từng trải", "học vấn" chỉ là điều kiện phụ thuộc, có càng hay, không có cũng không sao. Bởi vì, biết bao nhiêu người trên trái đất này bao phen vào sinh ra tử, từng trải dày dạn hoặc học hành thành đạt, mà đâu phải ai cũng là văn sĩ thi sĩ. Ta có thể học hỏi "kinh nghiệm" và "kiến thức" từ người khác từ sách vở từ các phương tiện thông tin tân kỳ, nhưng "cảm xúc cá nhân", nhất định không. Nó, chính cái "cảm xúc cá nhân", vắn tắt hí lộng theo ngôn ngữ hiện đại là "xúc cá", làm nên bản sắc độc đáo của người viết. Thưở trước, ở Sài gòn, có nhà văn Lê Xuyên chuyên trị chuyện tình bằng phương ngữ miền Nam, viết tiểu thuyết đăng nhật trình, có đoạn dông dài ròng rã mấy tuần, mà nhân vật nam vẫn chưa tháo xong gút lưng quần của nhân vật nữ. Có… bực không? Cớ sự này, nếu xét theo kinh nghiệm sống, tôi dám cá với anh, chính ông Lê Xuyên chỉ cần chưa tới ba mươi giây là đâu đó tênh hênh sẵn sàng hết rồi. Còn anh, nhà văn Hồ Ðình Nghiêm "xúc cá" theo cách của anh. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư có cách "xúc cá" riêng của chị. Chúng ta hiện sống và viết trong thế kỷ hai mươi mốt. Những gì các văn thi sĩ viết ra thời nay không còn gì mới lạ. Có mới có lạ chăng là "cảm nhận riêng tư" của mỗi người. Còn những khuynh hướng cách tân khác, như "hậu hiện đại", "tân hiện thực" hay "tân hình thức", chỉ là kỹ thuật sử dụng chữ viết, một tiểu xảo tân kỳ, xin dành cho giới thưởng ngoạn phán xét.

HĐN: Chuyện "rậm rật" gần đây nhất là việc những ông Việt kiều yêu nước "phát biểu linh tinh" và cuốn sách mang về in trong nước. Diễn đàn Talawas đăng tải tất cả mọi ý kiến biến nó thành một cuộc cãi cọ nhặng xị cả lên. Thú thật, khi theo dõi, nó khiến tôi rất mệt. Với vị thế một nhà văn, anh có lời bình phẩm cho vụ việc kia không?

NND: Tôi có để ý theo dõi các bài viết và góp ý rậm đám trên diễn đàn Talawas. Vui có, mà chán và bực cũng có. Như một tuồng hát đầy đủ hỷ nộ ái ố. Để tự an ủi, tôi… bèn nghĩ, coi không mất tiền, mà còn học hỏi được nhiều cách định nghĩa khác cho "dân chủ", "biên tập", "kiểm duyệt", v.v… theo định hướng xã hội chủ nghĩa. "Dân chủ" kiểu gì không biết, mà Talawas hết bị nhà nước xây "tường lửa" ngăn chận, tới bị "tin tặc" tìm cách phá hoại cho tan hoang mới thôi. Về chuyện cuốn sách, ý anh muốn nói tới quyển "Thơ đến từ đâu" của thi sĩ Nguyễn Đức Tùng chủ biên? Tôi nghĩ, có lẽ có nhiều ẩn khúc bên trong mà chúng ta, những người bàng quan, chưa và không biết. Vì vậy, cá nhân tôi long trọng tuyên bố: miễn bàn! Nhân đây, tôi mạn phép kể lại và nhấn mạnh lần nữa: Tôi vẫn giữ nguyên quan điểm về vấn đề "giao lưu" mà tôi đã tỏ bày cùng nhà văn Khánh Trường, khi anh có nhã ý mời tôi cộng tác cho nguyệt san "Hợp Lưu" khoảng đầu năm thập niên 1990: "Khi nào tác phẩm của anh được ấn hành rộng rãi ở trong nước, khi đó tôi sẽ viết bài cộng tác cho Hợp Lưu." Cho tới giờ này, đã có Đại hội Việt kiều được tổ chức rình rang trong nước, khách tham dự được xe có còi hụ đưa đón, oai quá. Biết đâu chừng, trong tương lai sẽ có thêm Đại hội Văn Thi sĩ Việt kiều, tha hồ cho các ông các bà về nước đọc tham luận cho nhau nghe. Thi sĩ, văn sĩ, các ông các bà là ai, mà lên tiếng hô hào mục tiêu cao cả: hoà hợp, hoà giải dân tộc? Hai chữ "dân tộc" dây dưa vào đây làm mục tiêu "hoà hợp và hoà giải" có vấn đề. Vì "dân tộc", ngoài dân chúng ra, còn bao gồm nhà nước trong đó. Chủ trương của nhà nuớc trong một chế độ độc tài toàn trị hẳn đã rõ ràng, là người kiểm soát tất cả những ai và những gì xuất nhập Việt nam. Vấn đề còn lại nằm ở "dân chúng", hay đúng hơn ở "một thiểu số dân chúng". Ở ngoài, là những người có "quan niệm cực đoan". Tôi chủ quan nghĩ rằng, có thể hiểu được thái độ "cực đoan" của họ, vì họ hoàn toàn không có một thế lực nào hậu thuẫn. Họ chỉ có thể đối kháng bằng phương tiện truyền thông hoặc tham gia biểu tình, chứ không thể ngăn cấm, dùng bạo lực để bịt miệng, quản thúc tại gia, thậm chí bắt bớ, giam cầm những phần tử đối lập. Ở trong, là những người có cảm tình, là "cánh tay nối dài" của nhà nuớc. Và khó lường nhất là những cảm tình viên của nhà nước, những nhân vật nguỵ quân tử, ẩn hiện khắp nơi trong cộng đồng Việt nam lưu vong. Cho tới khi nào, ở trong nước vẫn còn những kẻ lớn tiếng khẳng định: "Ở Việt nam không có chế độ kiểm duyệt sách báo", thì tôi e rằng, mục tiêu cao cả kia chỉ là những lời "phát biểu linh tinh" vô nghĩa và vô vọng. Chính quý vị, những nhà văn nhà thơ, nhà báo, biên khảo và phê bình gia ở Việt nam, là những người cần hoà giải, hoà hợp với nhau trước tiên, sau đó với "dân tộc". Một khi nan đề nêu trên được san bằng, tự khắc sẽ giải quyết các nan đề liên hệ khác.

HĐN: Tôi yêu và nể nang những gì liên quan tới "Made in Germany". Kỹ nghệ xe hơi của họ. Đội tuyển túc cầu của họ. Mê tơi những tác phẩm của Erich Maria Remarque. Ngưỡng mộ bà Thủ tướng Angela Merkel… Những thứ siêu việt trên có ảnh hưởng đến đời sống anh không? Nghe đâu anh có đi dạy Việt ngữ cho người bản xứ?

NND: Ngoài các sản phẩm và danh nhân tiêu biểu cho Đức quốc được anh nêu ra, mới đây, còn có thêm một hiện tượng ngoạn mục khác trong tân nội các cho nhiệm kỳ bốn năm sắp tới: tiến sĩ y khoa Philipp Roesler, 36 tuổi, sinh quán Việt nam, được bà Thủ tướng Liên bang Merkel bổ nhiệm làm Bộ trưởng Y tế. Giới truyền thông trong nước cũng có thông tin về dữ kiện này, nhưng hơi… bị nhiều biên tập. Ông sinh năm 1973 tại Khánh Hưng, không phải Khánh Hoà như nhiều bản tin đã ghi, thuộc tỉnh Ba Xuyên, nay là Sóc Trăng (*), được cha mẹ nuôi đem sang Tây Đức lúc ông chỉ mới sáu tháng. Điều này có nghĩa, ông chỉ có bộ dáng một người Á châu, là lý do mà các chính trị gia khác thường gọi xách mé ông là "thằng Trung hoa", chứ cá tính ông là một người Đức thuần tuý, chính ông cũng công nhận như vậy. Dù là gì chăng nữa, ông cũng là mẫu người thành công tiêu biểu cho "thế hệ chuối" của cộng đồng Việt nam tại Đức quốc nói riêng và cả thế giới nói chung. Phần số tôi không được suôn sẻ như vậy, mà lận đận hơn nhiều. Để giờ này tôi trở thành giáo viên Việt ngữ cho người bản xứ. Khoá nào may lắm thì đủ túc số học viên. Bằng không, chính ông khoa trưởng bày tôi cách tìm thêm học viên ma trong vòng quen biết, ghi danh đóng tiền mà không đi học. "Tài năng" tôi đâu chỉ dừng lại ở đó. Tôi còn xông pha mở thêm lớp dạy nấu ăn món Việt, mỗi lục cá nguyệt hai khoá: một mặn một chay. Thực đơn cho khoá mặn có gỏi gà rau răm bánh phồng tôm, bánh tráng cuốn rau sống tôm thịt nuớng chấm nước mắm pha, hoặc sốt me, sốt tương đen tương đỏ, và bánh kem trứng nước dừa ăn kèm trái cây, ba món đàng hoàng như trong nhà hàng siêu sao, không phải giỡn đâu anh! Có thể nói, mối liên hệ giữa tôi và đất Việt hiện nay chỉ hạn chế trong số bạn bè người Việt ít ỏi tại đây, qua các diễn đàn trong tin mạng, trong lãnh vực văn chương, âm nhạc và ẩm thực. Theo thời gian, liên hệ càng lúc càng lỏng lẻo. Nhất là về sau này, khi tôi mầy mò chuyển dịch một số tác phẩm của mình ra tiếng bản xứ, nhân tiện chen chân vào giới viết lách tại đây, bắt đầu bằng cách gia nhập "Hội Văn bút những Người viết Lưu vong tại các Quốc gia nói tiếng Đức", là một chi nhánh của Văn bút Quốc tế. Để thỉnh thoảng, có dịp, tôi lại góp mặt cùng họ trong các buổi đọc truyện ở quán cà-phê hay trong các buổi sinh hoạt văn chương. Kết quả sơ khởi rất khiêm nhường, nhưng đáng khích lệ: có vài bài thơ, vài truyện dịch được dăm ba nhà xuất bản thuộc hạng "cá kèo" cho in trong vài tuyển tập. Bàn qua ngắn gọn cá tính của dân Đức, có lẽ bản tính "thành thật", "đúng giờ", "kỷ luật", "suy nghĩ có hệ thống", v.v… của họ đã tiêm nhiễm tôi ít nhiều.

HĐN: Tuổi trẻ đã bỏ chúng ta từ lâu. Anh sẽ làm gì khi thực sự rỗi rảnh? Yoga. Tọa Thiền. Đi một bài quyền kiểu Tai-chi? Và tôi đoán, chắc anh chưa đi Việt Nam lần nào kể từ ngày rời "cây khế ngọt" khăn gói du học? (Mai Thảo: Đi làm cái đếch gì?)

NND: Một ngày của tôi bắt đầu bằng mười lăm, hai muơi phút tập thể dục. Và thỉnh thoảng thiền toạ theo cách tôi đọc được trong sách của ngài Dalai Lama. Trong khi ngài thiền tập để nhập tử và diệt ngã, thì tôi ngồi tréo bằng trên giường, hít vào thở ra, khép mắt… tính toan những chuyện phải làm trong ngày. Tóm lại, kiểu thiền toạ của tôi rất… nghiệp dư và đa sự lắm. Ngài Dalai Lama biết được, chắc ngài sẽ "biên tập" tôi, mệt nghỉ. Chữ "đi" trong phần hai câu hỏi, anh khéo dùng, khiến tôi tư lự khá lâu. Tại sao là "đi" mà không "về"? Nghĩ xa hơn, có lẽ chúng ta cần "hiệu đính" lại ý niệm hai chữ quê hương. Chúng ta chỉ "về" lại chỗ có những người thân yêu chờ ngóng. Ở Việt nam, hiện giờ, đâu còn ai mong đợi tôi? Tôi du học vào cuối năm 1969, có "về" thăm nhà vào mùa hè 1973, sau ngày ký hiệp định Paris. Người Mỹ rút quân về nước. Ông Kissinger và ông Lê Đức Thọ được trao giải Nobel Hoà bình. Lê Đức Thọ từ chối. Hai năm sau, hiệp định Paris bị bội ước. Kể từ đó tôi mắc phải hội chứng… lãnh cảm với "chùm khế ngọt", không còn tha thiết gì tới chuyện "đi" với "về" Việt nam. Để thỉnh thoảng, bắt chước thi sĩ Du Tử Lê, tôi ngâm nga: Đi với về cùng một nghĩa như nhau… Nhưng tôi không đến nỗi "cực đoan một chiều" như cố nhà văn Mai Thảo, vì không ai tiên liệu được chuyện tương lai. Biết đâu đó, sẽ có một ngày đẹp trời tôi nhận được thư mời đi Việt Nam tham dự "Đại hội Việt kiều Du sinh Cao niên" thì sao? Một điều chắc chắn, dù đi đâu muôn hướng, tôi sẽ về lại nơi đây, là nơi chốn dung thân rộng lượng và an lành của tôi trong nhiều thập niên qua.

HĐN: Cám ơn nhà văn Ngô Nguyên Dũng. Với tôi, đây là một (cuốn) "Dòng Chữ Tâm Tình" được tái bản sau hơn hai mươi hai (22) năm "ngủ quên". Những người bạn văn ở Montréal gửi tới anh lời chào thân ái. Riêng tôi, hẹn gặp lại anh khi tuổi đã ngoài sáu mươi. Bảo trọng.

NND: Tôi cũng cám ơn anh đã cho tôi cơ hội "tâm sự linh tinh" cùng độc giả Da Màu về đôi điều riêng tư ít nhiều nhạy cảm.

 
Hồ Đình Nghiêm thực hiện qua điện thư. Đầu năm 2010.

 


(*) http://vi.wikipedia.org/wiki/Philipp_R%C3%B6sler

 

 

 

.

bài đã đăng của Hồ Đình Nghiêm


1 bình luận »

  • Phạm Thị Thanh viết:

    Xin được bổ túc một điều mà anh Hồ Đình Nghiêm không hỏi, và anh Ngô Nguyên Dũng cũng không đề cập đến trong bài này. Đó là lãnh vực hội họa. Tôi được may mắn sở hữu 11 bức tranh của “ngovd” tức NND. Cách đây khoảng 5 năm, NND có gửi qua điện thư cho tôI xem chơi những bức tranh sơn màu nước của anh vừa vẽ xong. Ngay trong những giây phút đầu tiên mới xem tranh, tôi đã bị “coup de foudre” ngay ! Có lẽ vì màu sắc mà ngovd dùng đã nằm sẵn trong tiềm thức ưa thích của tôi, nên tôi …chịu ngay chăng? Tất cả 10 bức đều đẹp cả,  tranh tĩnh vật: phong cảnh, hoa, lá , màu sắc như trong tranh của  Chagall va Gauguin, đặc biệt là màu xanh dương.Tôi …lòng tham vô đáy, đã muốn có hết! NND đã dám tin tưởng và gửi ngay cho  tôi, bằng lòng để tôi… trả góp. Sau vài tháng thì tôi  trả xong, bèn muốn thử tài của NND lần nữa. Tôi gửi NND mấy bức hình hoa quỳnh chụp ở nhà, nhờ NND vẽ cho một bức. Thoạt đầu thì anh từ chối ngay, bảo rất khó vẽ hoa quỳnh vì hoa mầu trắng, lại nhiều cánh to nhỏ uốn éo. Rồi, tin rằng anh không vẽ được, tạm …tha thứ vì dù sao họa sĩ… mới vào nghề mà. Thế rồi độ hơn một tháng sau, anh gửi cho tôi xem hình chụp bức tranh  “Quỳnh” anh vừa vẽ xong.  Tôi thật bàng hoàng: tuyệt đẹp!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch