Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Sang Việt ngữ Email bài này

Kẻ sùng tín – chương 1


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 9.01.2010

 

 

 

Con người sẽ cố trở nên vĩ đại để rồi thấy mình nhỏ nhoi; cố hạnh phúc để thấy mình khốn khổ; cố hoàn hảo để thấy mình đầy khiếm khuyết; cố được người khác tin yêu để thấy những lỗi lầm của mình chỉ đem lại sự thù địch và khinh ghét. Nỗi hổ thẹn mà trong đó hắn tự nhìn thấy mình tạo ra trong hắn những khát vọng bất công và tội lỗi nhất có thể tưởng tượng ra được, bởi vì hắn nhận thức một nỗi thù hận đến mức sống chết với cái sự thật đã kết tội hắn và chứng minh cho hắn thấy những yếu kém của mình.

PASCAL, Tư tưởng
 

Và họ dùng chất nhựa để làm hồ vữa

SÁNG THẾ KÝ, đoạn 11

 

PHẦN 1 – SỰ HẤP DẪN CỦA CÁC PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG

 

CHƯƠNG 1 – ƯỚC NGUYỆN MONG CÓ BIẾN CHUYỂN

 

1. Sự thật hiển nhiên là khi tham gia một phong trào cách mạng đang mọc lên, nhiều người đã bị thu hút vào đó vì viễn tượng của sự thay đổi đột ngột và hoành tráng trên những điều kiện sống của họ. Phong trào cách mạng vốn là công cụ dễ nhận thấy của biến chuyển.

Kém hiển nhiên hơn, là việc những phong trào tôn giáo và dân tộc cũng có thể là những phương tiện đem lại thay đổi. Một sự hăng hái hay kích động nào đó lan rộng trong dân chúng rõ ràng là cần thiết để thực hiện được sự thay đổi rộng lớn và chóng vánh, và có lẽ không có gì khác biệt khi sự phấn khích xuất xứ từ hy vọng tìm thấy những của cải chưa từng ai biết đến, hay được gợi lên bằng một phong trào quần chúng đang tích cực hoạt động. Trên đất nước này (Mỹ), những thay đổi hoành tráng từ sau Nội chiến đã diễn ra trong một không khí nô nức hăng hái trước những cơ hội tiến thân tuyệt vời. Khi sự tiến thân không thể, hay không được phép, đóng vai trò động lực, những nguyên do làm cho người ta hăng hái khác phải được tìm ra, nếu muốn các thay đổi lũy tiến, tỉ như sự tỉnh thức và canh tân một xã hội trì trệ hay sự cải tổ từ gốc rễ những lề lối và tính cách của một cộng đồng, được thực hiện và duy trì. Các phong trào tôn giáo, cách mạng và dân tộc chính là những lò đốt nóng sự hăng hái của đại chúng theo kiểu đó.

Trong quá khứ, các phong trào tôn giáo đã là những công cụ nổi bật nhất đem lại thay đổi. Sự bảo thủ của một tôn giáo – phần chính thống của nó – chính là cặn bã tù túng của một thứ nhựa đã có thời vô cùng năng động. Một phong trào tôn giáo đang mọc lên thuần túy bao gồm thay đổi và thử nghiệm – rộng mở để tiếp nhận những quan điểm và kỹ năng mới từ khắp mọi nguồn. Hồi giáo khi mới xuất hiện là một trung gian cho việc tổ chức và hiện đại hoá. Thiên Chúa giáo từng là một ảnh hưởng văn minh hoá và hiện đại hoá cho những bộ lạc man rợ của châu Âu. Các cuộc Thánh chiến và cuộc Cải cách đều là yếu tố quan trọng trong việc làm phương Tây rung chuyển ra khỏi sự trì trệ của thời Trung cổ.

Trong thời hiện đại, những phong trào có liên quan đến việc những thay đổi rộng rãi và chóng vánh được thực hiện lại mang tính cách mạng hoặc dân tộc – hoặc đơn lẻ, hoặc tập hợp cả hai. Peter Đại đế có lẽ sánh ngang được, về mặt cương quyết, mạnh mẽ và tàn nhẫn, với nhiều lãnh tụ cách mạng hay dân tộc thành công nhất. Thế mà ông ta đã thất bại trong mục đích chính của mình, là biến nước Nga thành một quốc gia Tây phương. Và lý do ông ta thất bại là vì đã không bơm được vào cho dân chúng Nga một thứ nhiệt tình náo nức nào cả. Hoặc là ông không cho đó là cần thiết, hoặc ông đã không biết cách biến mục tiêu của mình thành một nghĩa vụ thiêng liêng. Không lạ lùng gì khi những người cách mạng Bolshevik đã quét sạch các Sa hoàng và con cháu Romanov lại cảm thấy một sự đồng điệu với Peter – một Sa hoàng và người họ Romanov. Chính vì mục tiêu của ông giờ cũng là của họ, và họ hy vọng thành công trong công cuộc mà ông đã thất bại. Trong lịch sử, cuộc cách mạng Bolshevik có thể được ghi nhận bằng hai cách có ý nghĩa tương đương với nhau: như ý tưởng muốn hiện đại hoá 1/6 địa cầu hoặc như ý tưởng muốn xây dựng một nền kinh tế Cộng sản.

Việc cả hai cuộc cách mạng Pháp và Nga đều chuyển sang thành các phong trào quốc gia chủ nghĩa dường như cho ta thấy rằng trong thời hiện đại, chủ nghĩa quốc gia là nguyên cớ phổ biến và bền vững nhất để khơi động sự nhiệt thành của quần chúng, và ngọn lửa quốc gia chủ nghĩa phải được khêu lên nếu muốn thực hiện được những sự thay đổi mãnh liệt từ gốc rễ đã được sự nhiệt thành cách mạng dự phóng và khởi xướng. Ta tự hỏi có phải những khó khăn mà nội các Lao động ở Anh quốc đang gặp phải, có phần nào là vì ý định thay đổi nền kinh tế quốc gia và cách sống của 49 triệu con người đã được khởi xướng lên trong một không khí tuyệt nhiên không còn chút gì là nhiệt huyết, hứng khởi và kỳ vọng. Sự phản cảm đối với những tai hoạ tái diễn do các phong trào quần chúng mới đây nhất đã làm các lãnh đạo văn minh và tử tế của đảng Lao động e ngại sự nhiệt tình cách mạng. Tuy nhiên, khả năng vẫn còn đó là các biến cố rồi cũng sẽ buộc họ phải dùng đến một dạng chủ nghĩa sô-vanh nhẹ, để cho ngay cả đối với nước Anh, “việc xã hội hóa quốc gia sẽ mặc nhiên có hệ quả là việc quốc gia hóa chủ nghĩa xã hội”[1].

Cuộc hiện đại hóa hiếm thấy trong lịch sử như của Nhật bản hẳn đã không thực hiện nổi nếu không có tinh thần phục sinh chủ nghĩa quốc gia Nhật. Có lẽ cũng đúng sự thật nếu nói rằng cuộc hiện đại hóa nhanh chóng trên vài quốc gia châu Âu (cụ thể là Đức) cũng được dọn đường tới một mức nào đó nhờ sự bộc phát và lan tràn cùng khắp cơn sốt chủ nghĩa quốc gia. Nhìn vào những dấu chỉ hiện tại, có thể đoán là sự hồi phục của châu Á sẽ thực hiện được nhờ tính công cụ của chủ nghĩa quốc gia hơn là bất cứ phương tiện nào khác. Chính nhờ cao trào chủ nghĩa quốc gia đúng nghĩa mà Kemal Atatũrk hiện đại hóa được Thổ Nhĩ Kỳ trong một sớm một chiều. Tại Ai Cập, [vì] không dính dáng đến phong trào quần chúng nào, cuộc hiện đại hoá thật chậm và lung lay, mặc dù những người cai trị, từ thời Mehmed Ali trở đi, đã đón nhận những ý tưởng của phương Tây, và các quan hệ của nước này với phương Tây đã có rất nhiều và rất mật thiết. Chủ nghĩa Zion (chủ nghĩa quốc gia Do Thái) là phương tiện đã canh tân một đất nước lạc hậu và chuyển hoá những chủ tiệm và người lao động trí óc thành người trồng trọt, công nhân và chiến binh. Nếu Tưởng Giới Thạch biết cách làm sao ra được một phong trào quần chúng đúng nghĩa, hay ít nhất, duy trì được cơn nhiệt thành chủ nghĩa quốc gia được sự xâm lăng của Nhật bản thắp lên, có lẽ bây giờ ông ta đang là người đảm nhiệm việc canh tân hóa Trung Hoa. Chính vì không biết cách, ông đã bị đẩy qua một bên dễ dàng bởi những bậc thầy trong nghệ thuật “tôn giáo hóa” – nghệ thuật biến những mục tiêu thực tiễn thành cứu cánh thiêng liêng. Không có gì khó hiểu trong việc Mỹ và Anh quốc (hay bất cứ nước dân chủ phương Tây nào) không thể có vai trò trực tiếp và hướng dẫn trong việc vực dậy những nước châu Á khỏi lạc hậu và tăm tối: các nền dân chủ không có cả khuynh hướng lẫn khả năng, có lẽ vậy, thắp lên một tinh thần phục sinh trên con số hàng triệu người châu Á. Sự đóng góp của các nền dân chủ phương Tây vào cuộc thức tỉnh của phương Đông thật ra chỉ có tính cách gián tiếp và rõ rệt là ngoài chủ ý. Họ đã thắp lên một sự hăng say oán ghét phương Tây, và chính cơn sốt chống phương Tây hiện nay đang vực phương Đông dậy sau hàng thế kỷ trì trệ[2].

Dù nguyện vọng muốn thay đổi không phải hiếm khi chỉ là một động cơ bề mặt, vẫn đáng cho chúng ta xem thử xem đào sâu vào ý hướng này có rọi thêm tia sáng nào lên những vận động nội tại của các phong trào quần chúng hay không. Vì vậy, chúng ta sẽ khảo sát tính chất của nguyện vọng này.

2. Trong chúng ta có một khuynh hướng muốn tìm thấy những tác động tạo ra tình trạng hiện hữu của mình ở bên ngoài bản thân. Khó tránh khỏi việc trong đầu chúng ta, thành công và thất bại bị liên hệ với hoàn cảnh sự việc xung quanh. Chính vì thế, những người đang thoả mãn nghĩ rằng đây là một thế giới tốt đẹp, và muốn giữ nó nguyên trạng, trong khi những người phẫn chí ủng hộ sự thay đổi. Khuynh hướng đi tìm tất cả lý do ở bên ngoài con người chúng ta vẫn hiện diện ngay cả trong những trường hợp mà rõ ràng tình trạng của chúng ta chính là do những phẩm chất cá nhân như khả năng, tâm tính, diện mạo, sức khoẻ, v.v. tạo ra. “Khi bất cứ cái gì dày vò con người,” Thoreau nói, “khiến anh ta không thể thực hiện những chức năng của mình, thậm chí cả khi anh ta đau bụng thôi chẳng hạn… anh ta liền hướng đến việc cải tạo cả thế giới”[3].

Chuyện những người thua thiệt đổ lỗi tại cuộc đời là điều dễ hiểu. Đáng nói ở chỗ là những kẻ thành công, dù hãnh diện đến đâu về tầm nhìn xa, nghị lực, sự tiết kiệm và những “chân giá trị” của mình đi nữa, ở tận đáy lòng cũng tin rằng thành công của họ là kết quả một sự kết hợp may mắn giữa các tình huống hoàn cảnh. Ngay cả với kẻ luôn luôn thành công, sự tự tin của họ cũng không bao giờ tuyệt đối. Họ không bao giờ tin chắc rằng mình nắm được tất cả mọi thành phần của công thức thành công. Đối với họ, thế giới bên ngoài giống như một bộ máy có thăng bằng rất bấp bênh, và khi nào nó còn chạy theo hướng có lợi cho họ thì họ rất lo sợ phải động chạm đến nó. Vì thế, sự cưỡng lại với thay đổi và ý nguyện cuồng nhiệt muốn có thay đổi thật ra có cùng một nguồn gốc, và cái nào cũng có thể mãnh liệt hệt như nhau.

3. Sự bất mãn tự nó cũng không nhất thiết tạo ra nguyện vọng đòi hỏi sự thay đổi. Còn phải có thêm những yếu tố khác, trước khi sự bất mãn đổi sang thành chống đối. Một yếu tố là sự cảm nhận được quyền lực.

Những kẻ lo sợ môi trường xung quanh không nghĩ đến chuyện thay đổi, dù hoàn cảnh có khốn khổ đến đâu đi nữa. Khi cuộc sống quá gieo neo đến mức người ta thấy rõ không có cách nào điều khiển được những tình cảnh hiện hữu của mình, chúng ta sẽ có khuynh hướng gắn vào với cái gì đã quen thuộc và hiểu rõ. Chúng ta hóa giải cảm giác bất an, bất trắc bằng cách biến cả cuộc đời mình thành một nề nếp, lối mòn cố định. Nhờ đó, ta có được cái ảo tưởng là đã thuần phục được cái bất thường. Các ngư dân, người du mục và dân cày đã quen được với thiên nhiên ngang ngạnh, người làm công việc sáng tạo lệ thuộc vào cảm hứng, kẻ man rợ khiếp sợ môi trường xung quanh – họ đều sợ thay đổi. Họ nhìn cuộc đời như nhìn một đoàn bồi thẩm có quyền tác phúc tác hoạ mặc tình. Kẻ nghèo mạt cũng vậy, nhìn cuộc sống với sự lo sợ và không mặn mà gì với thay đổi. Cuộc sống thật sự nguy hiểm khi ta luôn phải cận kề với đói và rét. Vì vậy, có một thứ tinh thần bảo thủ ở những kẻ khốn cùng hệt như ở những kẻ được ưu đãi, cái trước là một yếu tố đóng góp vào việc duy trì trật tự xã hội cũ cũng hệt như cái sau vậy.

Những kẻ lao vào việc thực thi các thay đổi to tát thường có cảm giác mình đang sở hữu một thứ quyền lực không thể cưỡng chống. Thế hệ đã làm nên Cách mạng Pháp có một ý niệm ngông cuồng về sự toàn năng của lý trí con người, và tầm vóc vô giới hạn của trí thông minh. Chưa có khi nào, de Tocqueville nhận xét, con người tự hào hơn thế về mình hay có nhiều niềm tin như thế về quyền năng của mình. Và hợp với niềm tự tin khuếch đại này là sự khao khát chung mong có biến chuyển tự động nổi lên trong lòng mọi người[4]. Lenin và những người Bolshevik đã liều lĩnh lao đầu vào sự hỗn loạn của công cuộc xây dựng một thế giới mới đã mang theo niềm tin mù quáng vào sự vạn năng của chủ thuyết Marxist. Những người Quốc xã không có chủ thuyết nào có uy lực như vậy, nhưng họ đã có niềm tin vào một lãnh tụ bất khả bại, và niềm tin vào phương thức mới. Bởi vì khó tin được là chủ nghĩa Quốc xã đã có thể phát triển nhanh đến thế nếu không nhờ vào sự xác tín rúng động lòng người là những phương thức tốc chiến và tuyên truyền mới mẻ đã biến nước Đức thành vô địch.

Ngay cả ước vọng tỉnh táo mong muốn tiến bộ cũng được nuôi dưỡng nhờ vào niềm tin – niềm tin vào bản chất tốt đẹp tự nhiên của con người và vào quyền năng quảng đại của khoa học. Đây là thứ niềm tin ngạo mạn và báng bổ, không khác lắm với những người đã bắt tay vào “xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời” và những người tin rằng “chẳng có gì chúng định làm mà không làm được”[5].

4. Mới nhìn, ta có thể giả định là chỉ cần sở hữu quyền lực, con người tự nhiên sẽ sinh ra một cái nhìn tự mãn về cuộc sống và dễ chấp nhận thay đổi. Nhưng không phải lúc nào cũng thế. Kẻ hùng mạnh cũng có thể nhút nhát hệt như kẻ yếu thế. Cái có vẻ quan trọng hơn không phải là công cụ quyền lực mà là niềm tin vào tương lai. Những lúc quyền lực không đi chung với niềm tin vào tương lai, chủ yếu nó được dùng để xua đuổi cái mới và bảo toàn nguyên trạng các quyền lợi. Ngược lại, hy vọng to tát, kể cả khi không được quyền lực thực tế hỗ trợ, nhiều khả năng có thể dẫn đến hành động liều lĩnh bậc nhất. Đó là vì kẻ mang hy vọng tìm được sức mạnh từ những nguồn vớ vẩn nhất – một câu khẩu hiệu, một lời nói, một cái phù hiệu đeo trên áo. Không niềm tin nào có sức tác động nếu đó không phải là niềm tin về tương lai; nếu nó không đề cập đến một thứ thời đại hoàng kim. Một chủ thuyết có hiệu quả cũng thế: ngoài việc là nguồn sức mạnh, nó còn phải tự nhận mình là chìa khoá mở ra cuốn sách của tương lai[6].

Những người chuyển hoá một quốc gia hay thế giới không thể dùng cách khuấy động và dẫn dắt sự bất mãn hay cách trình bày sự hợp lý và ích lợi của những thay đổi đang nhắm đến, hay cưỡng bức người ta vào lối sống mới. Họ phải biết cách nhóm lên và thổi bùng một hy vọng to tát. Không cần biết đó là hy vọng về nước trời, về của cải và chiến lợi phẩm, về thành tựu rực rỡ hay sự thống trị thế giới. Nếu những người Cộng sản thắng được ở châu Âu và một phần lớn của thế giới, đó không phải vì họ biết cách khuấy động sự bất mãn hay lan truyền thù hận, mà là vì họ biết cách rao giảng hy vọng.

5. Như vậy, sự khác biệt giữa kẻ bảo thủ và kẻ đấu tranh nảy sinh chủ yếu từ thái độ họ đối với tương lai. Nỗi sợ đối với tương lai đẩy ta đến chỗ dựa vào và bám víu lấy hiện tại, trong khi niềm tin vào tương lai giúp ta dễ đón nhận chuyển biến. Cả giàu lẫn nghèo, mạnh lẫn yếu, kẻ đã thành đạt nhiều hay ít đều có thể sợ hãi tương lai như nhau. Khi hiện tại có vẻ hoàn hảo tới mức chúng ta chỉ còn nước mong muốn cho nó cứ tiếp diễn vào đến tương lai, thay đổi chỉ báo hiệu sự đi xuống. Vì thế, những người đạt được thành tựu vượt bậc và những người có cuộc đời toại nguyện, hạnh phúc thường ra mặt chống lại sự canh tân quyết liệt. Tính cách bảo thủ của những người tàn phế hay quá tuổi trung niên cũng mọc ra từ nỗi sợ tương lai. Họ luôn để tâm phát hiện những dấu hiệu của sự suy đồi, và cho rằng mọi thứ thay đổi đều đem lại điều xấu hơn chứ không phải tốt hơn. Kẻ nghèo mạt cũng không có niềm tin gì vào tương lai. Tương lai đối với họ giống như một thứ bẫy sập chôn trên con đường trước mặt. Đi trên đó phải bước một cách rón rén. Thay đổi sự việc đồng nghĩa với mời gọi thêm phiền phức.

Về phía những người đầy hy vọng: có vẻ như không có gì khác biệt giữa những loại người bị thâu tóm trong một thứ hy vọng cuồng nhiệt. Đó có thể là người trí thức phấn khích, người nông dân khao khát đất đai, tay đầu cơ làm giàu mau chóng, người nhà buôn hay kỹ nghệ gia tỉnh táo, người lao động tầm thường hay nhà quý phái – họ đều hành động một cách liều lĩnh bất cẩn đối với hiện tại, đập tan nó nếu cần thiết và tạo ra một thế giới mới. Có thể có cả cách mạng của giới có đặc quyền lẫn giới bị thua kém. Phong trào rào đất ở nước Anh vào thế kỷ 17 và 18 là cách mạng của người giàu. Kỹ nghệ làm len nổi lên đến một mức sinh lợi vượt bậc, và nuôi cừu đem lại lợi nhuận cao hơn trồng trọt. Các chủ đất đuổi tá điền đi, rào kín đất bỏ ngỏ cho công cộng và gây ra những biến chuyển nổi bật trên bình diện xã hội và kinh tế của đất nước. “Các lãnh chúa và quý tộc gây rối loạn trật tự xã hội, phá vỡ những luật và lệ cổ xưa, đôi khi bằng vũ lực, thường là bằng cách đe doạ và áp lực”[7]. Một cuộc cách mạng khác của nước Anh xảy ra vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Đó chính là cách mạng Kỹ nghệ. Thứ hiệu năng làm người ta hoảng hồn của việc cơ giới hóa làm cháy bùng ngọn lửa trong đầu óc của các nhà buôn và nhà sản xuất. Họ khởi sự một cuộc cách mạng “cực đoan và quyết liệt ngang với bất cứ cuộc cách mạng nào khác do các bè phái bị kích động”[8], và chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, những công dân đáng trọng vọng, kính sợ Chúa này đã biến đổi bộ mặt nước Anh ngoài sức nhận ra.

Khi các hy vọng và giấc mơ tung hoành trên đường phố, những người nhút nhát có lý khi đóng chặt cửa, kéo kín rèm và nằm yên chờ cơn bạo động đi qua. Bởi vì lúc nào cũng vậy, có một sự bất tương xứng ghê gớm giữa các ước vọng, dù là tử tế và cao cả đến đâu đi nữa, với hành động đi sau chúng. Cảnh này giống như những kim đồng ngọc nữ (nguyên văn: các nàng trinh nữ trên đầu dắt lá trường xuân và các chàng trai đội vòng hoa) đi mở đường tiên báo cho bốn kỵ mã ngày tận thế.

6. Để đi đến chỗ lao mình vào thực hiện những biến chuyển rộng lớn, con người phải ở trong tình trạng bất mãn cao độ, nhưng lại không phải khốn cùng, và họ phải có cái cảm thức là nhờ có được một chủ thuyết đủ thực lực, một lãnh tụ bất khả bại, hay một phương pháp mới nào đó, họ đã chạm được vào một nguồn sức mạnh không ai cưỡng chống nổi. Họ cũng còn phải có một ý niệm thật ngông cuồng về viễn ảnh và những khả năng của tương lai. Cuối cùng, họ phải mù tịt hoàn toàn về những khó khăn liên quan đến dự định to tát của họ. Kinh nghiệm là một thứ bó buộc hành động. Những người khởi xướng cách mạng Pháp chẳng ai có kinh nghiệm chính trị gì cả. Người Bolshevik, Quốc xã, hay các nhà cách mạng châu Á cũng thế. Con người có kinh nghiệm về công việc là kẻ sẽ đến sau. Anh ta tham gia vào phong trào khi nó đã trở thành một công cuộc trên đà diễn tiến. Có lẽ là vì kinh nghiệm chính trị đã làm người Anh ngại ngần với những phong trào quần chúng.


[1] E.H.Carr, Chủ nghĩa quốc gia và Tiếp theo nó. (New York, Công ty MacMillan, 1945) trang 20.

[2] Coi cuối phần số 104.

[3] Henry David Thoreau, Walden, ấn bản Thư viện Hiện đại. (New York: Nhà Random, 1937), trang 69.

[4] Alexis de Tocqueville, Về tình trạng xã hội Pháp trước Cách mạng 1789. (London: John Murray, 1888) trang 198-199.

[5] Sáng thế ký, đoạn 11, câu 4, 6.

[6] Coi đoạn 58

[7] Karl Polanyi, Cuộc chuyển hoá vĩ đại. (New York, Công ty Farrar và Rinehart, 1944) trang 35

[8] Như trên, trang 40.

 

 

.

bài đã đăng của Eric Hoffer


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2010 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)