Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Đọc The Reader (Người Đọc) của Bernhard Schlink

 

 

 

 

Bathtub scene in The Reader

 

Bernhard Schlink sinh ngày 6 tháng 7 năm 1944, Bethel, Đức. Ông là luật sư Tòa Liên Bang Đức ở Westphalia năm 1988. Năm 1922 ông dạy Công chúng Luật và Triết học của Luật ở Đại học Humboldt, Bá Linh. Ông về hưu năm 2006. Tác phẩm Der Vorleser xuất bản năm 1995 được Carol Brown Janeway dịch sang Anh ngữ, The Reader (Người Đọc), năm 1997. Tác phẩm này đoạt nhiều giải thưởng, được dịch ra 37 thứ tiếng trên thế giới, và làm thành phim năm 2008.

Bernard Schlink

Chân dung nhà văn Bernard Schlink

*

Năm 1966, Michael Berg là sinh viên Luật. Anh tham dự một lớp học đặc biệt do một vị Giáo sư Luật tổ chức nhằm nghiên cứu những trường hợp vi phạm tội ác chiến tranh của các cựu nhân viên Đức Quốc Xã dưới thời Hitler. Trong buổi học này Michael nhận ra một trong những tội nhân là Hanna Schmitz, người mà tám năm trước anh đã yêu.

old kate winslet

Hanna là người soát vé xe điện ở gần Blumenstrasse nơi Michael đang sống. Mùa thu năm 1957, Michael bị ốm và trên đường đi học về Michael đã nôn mửa trước cổng vào nhà Hanna. Hanna giúp Michael rửa sạch chỗ bẩn và đưa Michael về tận nhà. Mùa xuân năm 1958, Michael vâng lời mẹ mua hoa đến cảm ơn Hanna. Định ra về nhưng Hanna bảo Michael chờ nàng để cùng đi ra phố. Trong khi Hanna thay áo Michael trộm nhìn. Bị bắt gặp, anh xấu hổ bỏ chạy nhưng suốt tuần anh cứ bị ám ảnh bởi nét đẹp của Hanna. Một tuần sau anh trở lại và ngồi chờ ở cầu thang cho đến khi Hanna đi làm về. Đang lúc mệt mỏi Hanna nhờ Michael xuống hầm của ngôi chung cư mang than đốt lò sưởi giúp nàng. Vụng về, Michael làm đổ đống than nên khắp người dính đầy bụi than. Hanna mở nước nóng cho anh tắm, quyến rũ anh và từ đó hai người gặp nhau hằng ngày. Sau buổi học Michael đến nhà Hanna, đọc sách cho nàng nghe, được Hanna tắm cho bằng nước nóng, sau đó hai người ân ái với nhau. Rồi đột nhiên Hanna biến mất. Cho là mình đã làm chuyện gì rất sai trái đến độ phật lòng Hanna, anh tìm nàng khắp nơi một thời gian dài. Anh cố quên tình yêu này tuy nhiên dư vị của mối tình đã ảnh hưởng đến hạnh phúc của anh suốt đời bởi vì anh tìm bóng dáng của Hanna trong những người đến sau.

winslet_epa500_31205a1

Hanna là một trong những người quản tù chịu trách nhiệm canh giữ 300 người phụ nữ Do Thái đang chờ bị đưa đến trại Auschwitz. Họ bị tạm giam trong một ngôi nhà thờ ở Cracow. Đồng Minh đánh bom làm ngôi nhà thờ bốc cháy. Tất cả những người phụ nữ Do Thái bị giam trong nhà thờ đều bị chết cháy chỉ trừ hai phụ nữ là mẹ con với nhau may mắn thoát chết. Người con gái, sau đó định cư ở New York, Hoa Kỳ. Bà viết hồi ký và dựa vào những dữ kiện trong quyển hồi ký này người ta truy tìm những người quản tù và đưa họ ra pháp luật.

The Reader

Những người cựu quản tù đều chối tội. Luật sư của Hanna là một người rất trẻ thiếu kinh nghiệm nên tất cả những tội nhân khác lợi dụng yếu điểm đổ tội cho Hanna. Họ vu cho Hanna là người chỉ huy đã viết bản báo cáo nộp cho SS. Bản báo cáo này người ta tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ của chế độ Đức Quốc Xã. Bản báo cáo cho thấy những người quản tù đã không mở khóa cửa cho tù nhân thoát ra để đưa tù nhân vào cái chết. Hanna phản đối lời vu cáo này bảo rằng mình không phải là người viết cũng không phải là người ký tên vào bản báo cáo. Vị thẩm phán chủ trì phiên xử ra lệnh nàng nộp chữ viết của nàng để so sánh thì rất bất ngờ, Hanna nhận tội.

the reader in bed

Tham dự phiên tòa từ đầu đến cuối không sót một buổi nào, Michael phát hiện Hanna không thể là người viết bản báo cáo vì nàng bị mù chữ. Hồi tưởng lại những kỷ niệm trong quá khứ Michael nhận ra một số chi tiết chứng minh giả thuyết của chàng. Khi Hanna hỏi Michael về những bài học về tiếng Latin, Hy Lạp, và Đức chàng có đề nghị đưa sách cho nàng tự đọc nhưng nàng từ chối viện lý do thích được nghe đọc hơn. Khi hai người làm cuộc du ngoạn bốn ngày qua các vùng lân cận Hanna để Michael đọc bản đồ, chọn đường, chọn món ăn trong thực đơn, viện cớ là mình không muốn bận tâm. Khi ở phòng trọ trong cuộc du ngoạn, Michael đã rời phòng trọ đi lấy thức ăn sáng và mang một đóa hoa hồng về để tặng Hanna. Trở về phòng Hanna đang ở trạng thái giận dữ tột độ thậm chí dùng cả dây nịt để quất Michael đến toát môi chảy máu. Khi nghe Michael giải thích là mình đi lấy thức ăn sáng có để lại mảnh giấy giải thích lý do vắng mặt của chàng thì Hanna bảo là không thấy giấy gì cả. Hanna đã nhiều lần cố ý xua đuổi ngược đãi Michael chỉ vì sợ Michael phát hiện là nàng mù chữ. Khi quản tù nàng thường bảo tù nhân đọc sách cho nàng nghe trước khi đưa họ đến Auschwitz. Hành động này có thể là một cử chỉ nhân đạo giúp những người tù nhân yếu đuối tránh công việc nặng nhọc, tuy nhiên bị xem là một cách để bảo vệ bí mật của nàng.

Hanna bị xử án tù chung thân. Trong khi nàng ở tù Michael đọc sách và thu âm vào những cuồn băng gửi cho nàng. Hanna dần dần tự học biết đọc và biết viết. Sau mười tám năm bị giam nàng được ân xá. Giám đốc trại giam liên lạc với Michael nhờ chàng giúp đỡ Hanna làm quen lại với cuộc sống bên ngoài. Michael đang ở trong tình trạng độc thân, đã ly dị vợ và có một con gái. Ngần ngừ rất lâu sau đó Michael nhượng bộ đến gặp lại Hanna. Nhan sắc của nàng đã phai tàn. Michael nói ngày mai sẽ đến đón Hanna và cả hai đồng ý sẽ mừng ngày được trả tự do cho Hanna một cách lặng lẽ. Ngày hôm sau Hanna tự tử. Tất cả tài sản bà có, số tiền trong một hộp đựng trà bằng thiếc và 7000 marks, bà mong muốn được dâng tặng toàn thể tài sản của mình cho các tổ chức phục vụ người Do Thái.

Khi bắt đầu yêu Hanna, Michael Berg mười lăm tuổi và Hanna lớn hơn chàng hai mươi mốt tuổi.

The Reader pic

*

Đây là một quyển sách rất hấp dẫn, nội dung phong phú, có cấu trúc chặt chẽ, diễn biến bất ngờ như một câu truyện trinh thám. Số tuổi mười lăm của Michael được thố lộ ngay từ khi vào truyện. Độc giả chưa biết tuổi của Hanna ngay lúc ấy nhưng đoán được là nàng lớn tuổi hơn. Đối với xã hội đương thời, chuyện một cậu bé yêu một người đàn bà lớn tuổi hơn, vẫn còn hấp dẫn người đọc dẫu không còn quá lạ lùng. Từ xa xưa đã có Oedipus giết vua Laius và chiếm vợ của vua này vô tình không biết đó là mẹ mình. Nếu Oedipus chỉ thích các cô gái trẻ thì có lẽ chuyện này đã không xảy ra. Năm 1830 Stendhal trong tác phẩm Đỏ và Đen đã cho Julien Sorel dính líu với phu nhân De Renal. Phim ảnh Mỹ thì có Mùa Hè 42 trong đó cậu bé mười bốn tuổi yêu một thiếu phụ có chồng tham gia thế chiến thứ Hai và trong The Graduate cậu bé học Trung học rơi vào vòng tay của người mẹ của cô bạn gái. Việt Nam chúng ta thì có cậu bé trong bài thơ lá Diêu Bông của Hoàng Cầm. Tuy nhiên câu truyện này không nhằm thắt gỡ những xung đột phát xuất từ việc vi phạm pháp luật và đạo đức của một người đàn bà dụ dỗ một cậu bé vị thành niên. Những hình ảnh nóng bỏng về tình dục như mỗi ngày đọc sách trước khi tắm nước nóng và làm tình trong thời gian đầu mùa xuân đến cuối mùa hè chỉ là món khai vị để Bernhard Schlink đưa độc giả vào một thế giới phức tạp hơn. Trong thế giới này, ông đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ, phải cân nhắc, trong phạm vi rộng lớn hơn, sâu thẳm hơn và phải trả lời vô số câu hỏi về giá trị đạo đức, lương tâm con người, tội lỗi của một xã hội đã tàn sát sáu triệu người Do Thái và mặc cảm tội lỗi của thế hệ sau (được mệnh danh là thế hệ thứ hai) đã thừa kế tội lỗi của thế hệ cha và anh. Bernhard Schlink gọi cái mặc cảm tội lỗi của thế hệ thứ hai là một nỗi đau mà về mặt thể chất người ta không cảm thấy và về mặt tinh thần người ta không nhận biết vì nó nằm trong vô thức.

Đã hơn sáu mươi năm sau cuộc tàn sát chủng tộc Do Thái, từ xương máu và tro tàn đã nở nhiều đóa hoa quí giá như tác phẩm The Night của Elie Wiesel, The Pianist củaWladyslaw Szpilman, Sophie’s Choice của William Styron, hay The Schindler’s Ark của Thomas Keneally. Trong đời sống thực tế và trong tác phẩm người ta đều lên án cái tội ác khủng khiếp này. Những tên tội phạm cao cấp bị đem ra xét xử từ năm 45 và 46 ở tòa án Nuremberg. Cuối thập niên 50 cho đến thập niên 60 các tội phạm có chức vụ thấp hơn cũng lần lượt bị đưa ra ánh sáng. Khi những người đương thời lên án, buộc tội, nguyền rủa những người phục vụ cho chế độ Đức Quốc Xã, trực tiếp liên hệ đến cái chết của sáu triệu người Do Thái, Bernhard Schlink với tác phẩm Người Đọc chứa giọng nói của người đứng bên lề bên trái, đưa ra một quan điểm khác, một cái nhìn lại, cân nhắc và cảnh tỉnh tập thể. Ông hỏi và buộc người ta phải suy nghĩ: ai thật sự là người có tội, họ có thật sự đáng bị xử tội không, ai là người có quyền lên án, bản án có xứng đáng với tội ác hay không, cái mà người ta ngỡ là công lý có thật sự là công lý hay không, và công lý có được áp dụng một cách bình đẳng cho tất cả mọi người hay không.

Đức Quốc Xã dưới thời Hitler có nền văn hóa rất cao. Những người phục vụ cho chế độ Đức Quốc Xã gồm cả thành phần trí thức như thẩm phán, luật sư, bác sĩ, giáo sư, và nhiều ngành nghề khác. Họ, có thể, không trực tiếp nhúng tay vào việc thảm sát người Do Thái nhưng vẫn nằm trong guồng máy khổng lồ phục vụ chế độ. Có những người trực tiếp được hưởng quyền lợi từ sự tàn sát chủng tộc này. Khi những người Do Thái bị lùa vào trại tập trung, công việc, nghề nghiệp và địa vị của họ được thay thế bởi những người cùng thế hệ. Ông Schlink nhận xét, những người thuộc thế hệ thứ nhất, đặc biệt là giới trí thức, thượng lưu, và trung lưu, cho dù không trực tiếp phục vụ chế độ Nazi, không hẳn là vô tội. Họ có tội đã thờ ơ với xã hội và nhân loại. Họ đã không phản ứng hay tỏ thái độ, không tham gia ngăn chận một tội ác khủng khiếp. Và những người ở thế hệ thứ hai, là thế hệ thừa hưởng thành quả của thế hệ cha anh, một cách gián tiếp, là những người cũng có phần trách nhiệm. Thế thì tại sao họ có quyền lên án, khinh bỉ, kết tội thế hệ trước khi họ khám phá ra những người thuộc thế hệ trước trong đó có những người họ từng thương yêu và kính trọng, thí dụ như cha và thầy giáo của họ, là những người vi phạm tội ác tàn sát chủng tộc. Hanna đại diện cho thế hệ trước. Michael đại diện cho thế hệ sau. Cả hai thế hệ mang mặc cảm tội lỗi (collective guilt) của vấn đề Holocaust. Tác giả, qua nhân vật Michael, cũng tự chất vấn mình. Làm thế nào mà người thế hệ sau có thể chất vấn, nguyền rủa, buộc tội những người mình yêu thương một cách đúng đắn và toàn vẹn. Đã thương xót thì không thể thực hiện công lý. Đã kết tội thì không hoàn toàn yêu thương. Nếu cha mẹ mình vi phạm tội ác to lớn như thế thì yêu thương người có tội cũng là có tội?

Tôi muốn, vừa có thể thông cảm tội ác của Hanna lại vừa có thể buộc tội nàng. Nhưng việc này kinh khủng quá. Khi tôi cố gắng thấu hiểu tội ác này, tôi có cảm tưởng tôi đã không lên án nó đúng mức. Nhưng khi tôi cố nguyền rủa nó cho đúng với tội của nó thì lại không có chỗ cho sự cảm thông. Nhưng ngay cả khi tôi cố gắng cảm thông Hanna, (phải cố gắng) thì cũng là phản bội nàng một lần nữa. Tôi không thể giải quyết được vấn đề này. Tôi muốn thực hiện cả hai nhiệm vụ – vừa thông cảm lại vừa lên án. Nhưng đây là chuyện bất khả thi.

Cynthia Ozick, nhà văn nổi tiếng về những tác phẩm có liên hệ đến việc tàn sát người Do Thái, trong đó có truyện ngắn Cái Khăn Quàng, đã công kích việc ông Schlink cấu tạo nhân vật Hanna làm một người quản tù mù chữ. Bà buộc tội tác giả đã bóp méo lịch sử, làm người đọc có thể thông cảm và tha thứ cho những người phạm tội như Hanna. Bà có lý, bởi vì đến cuối truyện, tôi thấy thương hại nhân vật Hanna. Ở một hoàn cảnh khác, có lẽ người ta sẽ phải công nhận nàng là một phụ nữ thông minh (phải thông minh ghê lắm mới có thể dấu được cái mù chữ của nàng) và rất có thể người ta thấy nàng có chút lòng nhân hậu (phải nhân hậu mới đưa cậu bé ốm yếu bệnh hoạn về đến tận nhà). Nếu không mù chữ có thể nàng sẽ tránh được cái hoàn cảnh đã đưa đẩy nàng đến chỗ trở thành tội nhân. Tôi tin rằng, một người vi phạm tội ác, có thể vì hoàn cảnh đẩy đưa. Người ta có thể rất thông minh nhưng không nhận biết mình làm việc ác. Trường hợp của Hanna, nàng không nhận ra là nàng có thể mở cửa nhà thờ để giải thoát cho ba trăm tù nhân giúp họ thoát chết cháy bởi vì nàng có nhiệm vụ canh giữ họ. Nếu một người suốt cuộc đời được huấn luyện để phục vụ một chế độ, một tư tưởng, một ý thức hệ, liệu người ta có thể nhận biết, và nếu biết thì có thể dám làm khác với những luật lệ qui định mà người ta phải tuân theo hay không? Nói chung, người ta có thể thông minh nhưng vẫn bị bao vây trong một ý thức hệ mà các nhà lãnh đạo đã dàn dựng nên. Nếu người ta làm một việc mà người ta không có ý thức phạm tội, vì luật thời mà người ta làm việc ấy cho phép, thì có nên xử người ta như một người phạm tội có ý thức, ở một thời gian khác với chế độ luật pháp khác, hay không? Nếu buộc tội Hanna thì phải buộc tội cả những người đã phục vụ chế độ Đức Quốc Xã ở mức độ cao cấp hơn Hanna. Đem xử tội Hanna, là dùng Hanna làm con vật tế thần, xoa dịu mặc cảm tội lỗi của một tập thể, và đồng thời chạy tội cho một giai cấp khác.

Qua Süddeutsche Zeitung, tờ nhật báo có nhiều độc giả nhất nước Đức, Jeremy Adler đã nhận xét Người Đọc là một tác phẩm khiêu dâm có văn hóa, như người ta đã từng nhận xét văn của Milan Kundera là dâm thư cho giới trí thức. Nếu định nghĩa khiêu dâm là đánh thức làm xao xuyến những ao ước nhục thể thì tác phẩm Người Đọc tương đối thành công. Tương đối là bởi vì sẽ có những người không thấy cơ thể họ xao xuyến. Khó mà diễn tả tình yêu của tuổi trẻ Tây phương mà không nói đến tình dục. Người Việt Nam thuộc thế hệ 40 hay 50 có khái niệm và ca ngợi tình yêu lãng mạn, một cách yêu chỉ để mà yêu, yêu nửa chừng, không nhất thiết phải có đụng chạm đến xác thịt (nhưng có đụng chạm thì càng tốt). Với người Tây phương tình dục gắn liền với tình yêu. Cũng như Milan Kundera trong The Unbearable Lightness of Being và Gabriel Garcia Marquez trong Love in the Time of Cholera, Bernhard Schlink không dùng những chữ sống sượng khi diễn tả cuộc ái ân cũng rất ít khi dùng những chữ tục tằn để nói đến các bộ phận sinh dục. Marquez viết về tình dục với giọng khoe khoang một cách khôi hài nhưng giọng văn rất trang nhã. Kundera táo bạo hơn nhưng không sỗ sàng. Schlink gợi cảm nhưng kín đáo. Sau đây là một đoạn nói về lúc Michael quay trở lại căn hộ của Hanna và sau khi cậu đi lấy than cho nàng và bị than dính đầy người. Hanna bảo cậu bé tắm và gội đầu trong khi nàng giũ bụi than trên quần áo của Michael.

Tôi không ngước nhìn khi nàng vào bếp, cho đến khi nàng đứng bên cạnh bồn tắm. Nàng dang rộng chiếc khăn tắm. “Lại đây!” I quay lưng, đứng lên, và bước ra khỏi bồn. Từ phía sau, nàng trùm khăn phủ kín người tôi từ trên đầu cho đến bàn chân và lau người tôi cho khô. Nàng thả rơi chiếc khăn xuống nền nhà. Tôi đứng thật yên không dám nhúc nhích. Nàng đứng sát vào người tôi đến độ tôi cảm thấy ngực nàng chạm vào lưng tôi và bụng của nàng tì lên mông tôi. Nàng cũng trần truồng. Nàng vòng tay ôm lấy tôi, một tay đặt trên ngực còn tay kia trên vật đang cương cứng.

“Đây là lý do mà cậu quay trở lại!”

“Tôi…” Tôi không biết phải nói gì. Không thú nhận mà cũng chẳng từ chối. Tôi quay người lại. Chúng tôi đứng gần nhau quá nên tôi không thể nhìn thấytrọn vẹn thân hình nàng,nhưng tôi vẫn thấy choáng ngợp bởi thân hình trần truồng của nàng. “Cô đẹp quá!”

“Cậu nói nhăng gì thế!” Nàng bật cười và vòng tay lên cổ tôi. Tôi cũng vòng tay ôm lấy thân hình nàng.

Tôi bỗng lo ngại: lo ngại về những cái sờ mó, cái hôn, sợ nàng sẽ không thích, và tôi không thể thỏa mãn nàng. Nhưng khi chúng tôi ôm nhau một lúc,tôi ngửi thấy mùi hương của nàng, cảm thấy hơi ấm và vòng tay chắc chắn của nàng, mọi chuyện bỗng trở nên dễ dàng. Tôi khám phá dọ dẫm thân thể nàng bằng tay và bằng môi. Môi tôi tìm môi nàng, rồi thân hình của nàng nằm trên thân thể tôi, nàng nhìn sâu vào mắt tôi cho đến khi tôi “đến.” Tôi nhắm mắt cố gắng tự kềm chế mình, nhưng sau đó tôi rên thật to đến độ nàng phải bịt mồm tôi để dập tắt âm thanh.

Qua tác phẩm Người Đọc tác giả đã mở ra vô số câu hỏi đưa người đọc vào thế giới nội tâm của nhân vật cùng với những vấn đề đạo đức của cá nhân và xã hội. Những câu hỏi không có câu trả lời thỏa đáng. Ông để độc giả phải đối diện với lương tâm và tự tìm ra câu trả lời cho chính mình.

Tại sao? Tại sao một điều đẹp đẽ như thế lại có thể tan vỡ khi ta hồi tưởng, bởi vì nó ẩn chứa một sự thật không tốt đẹp? Tại sao cái ký ức của những năm hạnh phúc trong hôn nhân lại trở nên cay đắng khi người hôn phối của chúng ta bộc lộ là họ ngoại tình trong thời gian ấy? Bởi vì một tình trạng như thế khó mà có hạnh phúc? Nhưng mà chúng ta đã cảm thấy hạnh phúc! Đôi khi không thể giữ nguyên hạnh phúc trong ký ức bởi vì chuyện hôn nhân chấm dứt một cách không hạnh phúc. Bởi vì hạnh phúc chỉ có thật nếu nó kéo dài mãi mãi? Bởi vì mọi chuyện đều chấm dứt một cách đau đớn nếu ngay từ đầu chúng đã chứa đựng những nỗi đau, có ý thức hay vô thức? Nhưng cái gì là nỗi đau trong vô thức và không cảm nhận được?

Một đoạn khác về vấn nạn Holocaust:

Tôi tự hỏi như tôi đã từng tự hỏi: Cái thế hệ thứ hai của chúng tôi nên làm gì, phải làm gì với cái hiểu biết về những điều khủng khiếp của vấn đề tận diệt người Do Thái? Chúng tôi không nên nghĩ là chúng tôi có thể thấu hiểu những điều không thể hiểu thấu, chúng tôi không có quyền hỏi cho ra lẽ vì làm thế là mang những điều khủng khiếp ra để thảo luận, dù rằng tự những điều khủng khiếp này không phải là chuyện người ta đặt vấn đề, thay vì chấp nhận cái giá trị bề ngoài của những điều khủng khiếp này chúng tôi chỉ có thể giữ im lặng trong cơn quằn quại, nhục nhã và mặc cảm tội lỗi. Để làm gì chứ? Không phải là tôi không còn hứng thú trong việc phát hiện và làm sáng tỏ những điều tôi đã hấp thụ trong buổi học, từ đầu phiên xử. Tuy nhiên, một số người bị kết án trong khi chúng tôi, cái thế hệ thứ hai đã bị cơn quằn quại, nhục nhã và mặc cảm tội lỗi làm cho câm họng – Và bây giờ liệu chỉ có ngần ấy thôi?

Văn phong của Schlink đơn giản mà không đơn điệu. Cùng có cách viết đơn giản, cái đơn giản trong cách viết của Ha Jin như cái đẹp của một cô gái thôn dã, chân chất và mộc mạc. Cô gái này không thể trở nên cầu kỳ mà vẫn giữ được cái đẹp này. Cách viết của Bernhard Schlink như một người phụ nữ đẹp và rất lịch lãm, có thể cầu kỳ nhưng chọn không cầu kỳ, người phụ nữ này đơn giản một cách cố ý, chỉ trưng bày những điểm nổi bật để thu hút người nhìn. Bernhard Schlink có cách dùng chữ thật rõ ràng và chính xác của những người trong nghề luật. Ông mê hoặc người đọc bằng phương pháp viết truyện trinh thám, đặt những chi tiết nho nhỏ khắp nơi, không quá lộ liễu nhưng cũng không dễ phát hiện, để đưa độc giả đến kết luận bất ngờ. Ông phân tích tâm lý nhân vật rất tài tình. Càng đọc tôi càng có cảm giác đang đọc tự truyện. Như thế có nghĩa là một nhà văn có tài có thể biến chuyện người khác thành chuyện đời mình. Hay viết về cuộc đời mình mà người đọc thấy có chút gì của họ trong đó.

Michael Berg của Bernhard Schlink có tâm lý rất phức tạp. Michael yêu Hanna hay chỉ yêu cảm giác khoái lạc anh đã có với Hanna? Nhân vật trong thơ của Hoàng Cầm đi tìm lá diêu bông. Nhân vật trong thơ Du Tử Lê như chú chim bói cá đi tìm bóng trăng dưới đáy hồ. Michael đi tìm hình ảnh của Hanna khi mang tất; nàng có cái vẻ như đang rơi vào bên trong nội tâm của nàng như một đóa hoa khép cánh úp chụp vào nhụy hoa. Các nhân vật này có một điểm tương đồng, tất cả đều đi tìm ảo ảnh của hạnh phúc tuyệt đối. Một thứ hạnh phúc chỉ có được khi nó còn nằm ngoài tầm tay.

Anh không muốn gặp lại Hanna. Khi nhìn thấy Hanna ở phiên xử, anh giải thích lý do anh không muốn gặp nàng: “Tôi nhận ra tôi đã cho rằng việc Hanna bị giam giữ là tự nhiên và hợp lý. Không phải vì nàng có tội, hay mức độ nghiêm trọng của những lời buộc tội, hay chứng cớ đã rõ ràng, chuyện này tôi chưa biết, mà vì nếu nàng ở trong tù thì nàng sẽ không liên hệ đến thế giới của tôi, sẽ đứng bên ngoài cuộc đời tôi, quá xa vời nên nàng chỉ có thể tiếp tục là một mảnh ký ức như nàng đã trở thành một mảng ký ức trong những năm qua.”

Tuy Michael gửi băng thâu âm anh đã đọc vô số các tác phẩm văn học cho Hanna, anh không viết thư, không trả lời thư, và cũng chẳng thăm nàng. Lý do:“Tôi có cảm tưởng nàng chỉ có thể thật sự là nàng như trong ý nghĩ của tôi nếu giữa chúng tôi có một khoảng cách thật sự. Tôi e sợ cái thế giới nhỏ bé, nhẹ nhàng, và an toàn của những lá thư và những băng thâu âm quá nhân tạo và mỏng manh để có thể chịu đựng được sự gần gũi thật sự. Làm thế nào chúng tôi có thể đối diện với nhau mà không thố lộ những gì đã thật sự xảy ra giữa chúng tôi?”

George Steiner đã nhấn mạnh trên tờ Observer “Hãy đọc quyển sách này!” Và “nếu đã đọc rồi xin hãy đọc lại.” Đọc để thấy không những tác giả đưa ra một chuyện tình của thời hiện đại vượt giai cấp và nối liền hai thế hệ, ông còn cho thấy xã hội nào cũng cần có một tiếng nói không rập khuôn với tiếng nói của tập thể để có thể ngăn ngừa những sai lầm của xã hội. Đọc để thấy thế hệ hiện tại không dễ dàng sống thanh thản bằng cách gạt bỏ những ám ảnh của tội lỗi đã xảy ra ở thế hệ trước. Đọc đễ thấy công lý không luôn luôn đến với tất cả mọi người một cách công bằng và bình đẳng. Nữ thần công lý luôn luôn ở một chỗ cao cả xa vời, người nghèo trong xã hội không dễ dàng vói được công lý.

Như Samuel Johnson đã nói “Nhiệm vụ của nhà văn là làm cho thế giới tốt đẹp hơn.” Tôi nghĩ Bernhard Schlink đã thực hiện nhiệm vụ của ông.

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


6 bình luận »

  • Ngô Nguyên Dũng viết:

    Gởi Chị Nguyễn Thị Hải Hà,
     
    tôi đọc “Đọc The Reader (Người đọc) của Bernhard Schlink” của Chị lần đầu, thú thật, không kỹ. Sau đó, tình cờ, tôi tìm được “Der Vorleser” trên giá sách nhà một người bạn.
     
    Tôi để dành đọc mỗi tối dăm ba trang để dỗ giấc ngủ… Tới đoạn, sau khi Hanna bị kết án tù chung thân, nhân vật tôi ly dị với người vợ đầu tiên, và tìm cách liên lạc trở lại với Hanna, bằng cách đọc truyện thâu vào băng cát-sét và gởi vào nhà giam cho nàng…, tôi đọc một mạch cho tới khi gấp sách lại. Và xúc động tới ứa nước mắt. Khuya đó, tôi ngủ không an giấc.
     
    Ngày hôm sau tôi đọc lại bài viết của Chị một lần nữa, kỹ càng.
     
    Xin phép Chị cho tôi chia sẻ cùng Chị đôi điều.
     
    Xét về tình:
     
    Tôi xúc động, khi đọc “Der Vorleser” như một chuyện tình vong niên ngang trái thời hậu chiến tại Ðức quốc, giữa nhân vật tôi, mười lăm tuổi, với Hanna, ba mươi sáu tuổi. Khoảng cách tuổi tác không bao giờ bắt kịp nhau.
     
    Tôi xúc động, khi đọc tới đoạn nhân vật tôi hồi tưởng Hanna bằng những ảnh sắc còn giữ lại trong ký ức: “Một Hanna mang vớ trong bếp. Một Hanna khác đứng trước bồn tắm, hai tay cầm chiếc khăn lông dang rộng. Thêm một Hanna nữa đang đạp xe, váy phất phơ ngược gió….”
     
    Tôi xúc động, khi đọc tác giả diễn tả nội tâm của nhân vật tôi những khi ôm vợ trong tay: “… và tôi có cảm tưởng, rằng cảm xúc ấy không thật, rằng nàng không thật, rằng nàng ôm ấp và cho tôi xúc cảm lầm lẫn, rằng nàng có mùi hương và mùi vị lầm lẫn.”
     
    Và xúc động nhiều nhất, khi tôi đọc tới đoạn cuối, sau khi Hanna tự vẫn, nhân vật tôi cùng bà giám đốc vào xem lại phòng giam Hanna: “Trên tường giường ngủ đính nhiều tranh ảnh và vuông giấy vụn vặt … Một tấm ảnh tạp chí chụp một người đàn bà lớn tuổi tay nắm tay một nam thanh niên trong bộ com-plê đậm màu …” Và bà giám đốc thố lộ: “Bà ấy mong đợi thư ông viết cho bà ấy vô cùng. Bà ấy chỉ được ông gởi cho bưu tín, và khi bưu tín được phân phát xong, bà ấy hỏi: ‘Không có thư cho tôi à?’, ý bà ấy muốn nói là thư, không phải những gói bưu kiện đựng mấy cuộn băng cát-sét. Tại sao ông không biên thư cho bà ấy?”
     
    Xét về :
     
    Tôi nghĩ rằng, cách cư xử của nhân vật tôi với Hanna là một thái độ thoả hiệp giữa tình yêu và lương tri, cho nhiều hơn nhận. Vì, tác giả mượn nhân vật tôi, đã viết, và được Chị chuyển dịch rất khéo, như sau:
     
    Tôi muốn, vừa có thể thông cảm tội ác của Hanna lại vừa có thể buộc tội nàng. Nhưng việc này kinh khủng quá. Khi tôi cố gắng thấu hiểu tội ác này, tôi có cảm tưởng tôi đã không lên án nó đúng mức. Nhưng khi tôi cố nguyền rủa nó cho đúng với tội của nó thì lại không có chỗ cho sự cảm thông. Nhưng ngay cả khi tôi cố gắng cảm thông Hanna, (phải cố gắng) thì cũng là phản bội nàng một lần nữa. Tôi không thể giải quyết được vấn đề này. Tôi muốn thực hiện cả hai nhiệm vụ – vừa thông cảm lại vừa lên án. Nhưng đây là chuyện bất khả thi.”
     
    Nhân vật tôi không nói thẳng cho Hanna biết điều đó, chỉ gởi cho Hanna những cuộn băng cát-sét đọc truyện, những câu chuyện vô thưởng vô phạt. Nhưng không biên thư. Như một tín hiệu gởi gắm cho Hanna. Có lẽ nàng hiểu ra điều đó và đã dứt khoát chọn lựa… Một lựa chọn bi thảm, tựa như vết chém để lại ấn tượng vô cùng mạnh mẽ trong tâm tư nguời đọc.
     
    Cám ơn Chị Hải Hà rất nhiều. Nhờ Chị, qua bài viết này, mà tôi có cơ hội đọc được một tác phẩm văn chương tuyệt đẹp viết về tình yêu trong bối cảnh một nước Đức sau thời chiến tranh, đang tìm cách tự chữa lành những ung lở của hội chứng “diệt chủng dân tộc Do thái”. Bằng thái độ khoan dung, sòng phẳng của nhân vật tôi. Bằng sự hy sinh, có lẽ, không vô ích của Hanna.
     
    Đến bao giờ, Việt nam của chúng ta có được một tác phẩm tương tự thế?
     
    Tôi xin được kết thúc bài góp ý của tôi bằng trích đoạn vài câu của nhà văn người Anh, W. Somerset Maugham. Trong truyện ngắn “Red”, ông viết: “Thảm kịch của tình yêu không phải là cái chết hay sự chia cách … Thảm kịch của tình yêu là sự dửng dưng.” Và: “… những người hạnh phúc không có chuyện gì để kể, và một mối tình hạnh phúc càng không có.”
     
    Trân trọng.
    Ngô Nguyên Dũng.
     
    T.B. Tiếc quá, tôi không được xem nguyên vẹn, mà chỉ một đoản phim chiếu thử, “Der Vorleser”.
     

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

    Thư gửi anh Ngô Nguyên Dũng – Bàn thêm một chút về quyển Người Đọc của Bernhard Schlink
     
    Thưa anh,
     
    Cám ơn anh đã góp ý góp lời.  Bài viết của anh làm tôi cảm động vì hai lẽ:  anh đọc quyển sách với nhiều cảm xúc và anh đã nhín thì giờ để góp ý, bằng bài viết rất chu đáo và đầy chân tình, với một cây viết vô danh. 
     
    Bài viết của anh mở ra vài điểm thú vị, vì anh đã không ngại chia sẻ ý nghĩ với tôi nên tôi xin phép bàn thêm vài điều chung quanh quyển sách Người Đọc. 
     
    Tôi đọc quyển này đã lâu nhưng ngần ngại không dám viết bài điểm sách, một phần vì tôi đọc bản tiếng Anh, tôi ngại cái tam sao thất bổn của một người Việt viết về quyển sách Đức đọc bằng tiếng Anh.  Ngay cả khi nhận xét về văn phong giản dị của ông Schlink tôi đã phân vân không biết có phải đây là văn phong của dịch giả.  Tôi cũng biết Da Màu có nhiều người cộng tác ở khắp nơi dĩ nhiên trong đó có Đức nên rất lo là mình làm chuyện múa rìu qua mắt thợ.  Tuy nhiên tôi xem đây là cơ hội để mình vừa học vừa chơi.  Vì anh đã đọc văn bản bằng tiếng Đức, anh nhận xét văn phong của tác giả như thế nào?  Tôi hỏi thế để thử tưởng tượng sự khác biệt của bản dịch và bản gốc dù tôi đã nghe các nhà phê bình khen ngợi bản dịch rất gần với bản gốc.
     
    Cũng như bao quyển sách hay khác, mỗi người đọc sẽ rút ra những kinh nghiệm khác nhau.  Anh thật là nhà văn có rung cảm dồi dào.  Anh nêu ra bốn thí dụ làm anh xúc động mạnh về tình cảm nhưng chỉ một thí dụ về lý trí.  Anh cũng không ngần ngại thú nhận là anh ứa nước mắt khi đọc, thật là gan dạ, anh không sợ bị chê là “mít ướt”.  Đối với tôi đây là điểm thú vị.  Bởi vì là phụ nữ, khi cố gắng trình bày về những điểm hay về một quyển sách tôi thường giới hạn việc phát biểu những cảm xúc tôi có khi đọc.  Tôi cũng rất ngại ngần khi nhấn mạnh đến khía cạnh tình yêu.  Bởi vì tôi sợ bị chê là đàn bà chỉ có biết yêu và mau nước mắt.  Cám ơn anh đã không ngại khi nói đến những rung động mạnh của anh, về sau tôi sẽ mạnh dạn nói về những cảm xúc tôi nhận thấy khi tôi đọc một quyển sách hay.
     
    Tôi cũng rất thích những đoạn anh trích dẫn. Cái hình ảnh Hana đứng tần ngần trước thư viện của người bố nhìn những quyển sách triết học thần học bìa bọc da thật rõ nét trong óc tôi và nó làm tôi có cảm tưởng nếu nàng đừng tự tử và viết lại cuộc đời nàng có lẽ quyển sách đó sẽ là Best Seller.  Người Đọc tuy cũng tạo trong tôi nhiều cảm xúc, nhưng những chọn lựa của lương tâm và đạo đức trong quyển sách lại ám ảnh tôi mạnh hơn. 
     
    Ở cái đoạn làm anh xúc động nhất, nhân vật tôi (Michael Berg) vào phòng của Hana, nơi giam giữ nàng 18 năm, và nơi nàng treo cổ kết thúc cuộc đời của nàng (đến bây giờ tôi vẫn thắc mắc vì sao nàng tự tử), chàng ngồi xuống mé giường khóc nức nở. Vị quản tù gặn hỏi liên hệ của hai người, chàng nhất quyết không khai làm cho tôi có cảm tưởng đây là một khối tình mang xuống tuyền đài không tan.  Anh nhắc đến chương này làm tôi liên tưởng đến một chương sau đó.  Đây là một chương ngắn ít ai để ý tuy nhiên nó đeo đuổi tôi bắt tôi suy nghĩ mãi.  Khi chàng mang 7000 mác, cùng với cái hộp thiếc đựng tiền lẻ đến New York gặp người phụ nữ Do Thái, một trong hai người còn sống sót và đã viết quyển hồi ký dẫn đến việc đưa Hana ra tòa án, người phụ nữ Do Thái này chỉ hỏi bâng quơ một câu về liên hệ giữa hai người, thế mà Michael lại khai thật liên hệ của hai người.  Cái thành thật này tạo cơ hội cho người phụ nữ Do Thái cạnh khóe, dè bĩu, kết án Hana thêm một lần nữa.  Bà ta cho rằng vì kém đạo đức Hana đã phá hủy cuộc sống tình cảm của cậu thiếu niên mới lớn và vì thế đưa đến chỗ phá hủy hôn nhân của chàng.  Về điểm phá hủy tâm hồn của một thiếu niên, tôi nghĩ, đặt một người đàn ông trưởng thành vào vị trí của cậu bé, đọc sách, tắm nước nóng, làm tình, dù đó là một người hai mươi lăm, ba mươi lăm, hay sáu mươi lăm, hậu quả sẽ như nhau.  Tất cả đều sẽ rơi vào tình yêu (làm như thể tình yêu là một cái hố sâu thăm thẳm vậy) vì ai có thể cưỡng lại một hạnh phúc tuyệt với như thế.  Nếu người đàn ông đó bảy mươi lăm hay tám mươi lăm hậu quả sẽ khốc liệt hơn, ai không tin thì xin đọc quyển Hồi ký của những cô điếm buồn của Marquez để so sánh với tình yêu của một ông già chín mươi tuổi.
     
    Có hai điều trong chương này làm tôi suy nghĩ.  Một, đây có phải là sự phản bội của Michael như nhiều nhà phê bình đã kết luận?  Hai, có nên trách người phụ nữ Do Thái đã không tha thứ cho Hana?
     
    Một, tôi tự trả lời là Michael không phản bội Hana.  Bằng cách thú nhận liên hệ với Hana, chàng đã thú nhận là mình có yêu Hana, vì yêu nên không còn lẫn tránh chối bỏ quan hệ, vì yêu nên chấp nhận cùng hứng chịu hậu quả từ những lỗi lầm của nàng.  Anh đã minh oan cho Hana bằng cách nói với người phụ nữ Do Thái là nàng mù chữ.  Bà ta sẽ nhận ra sau khi có thì giờ suy nghĩ kỹ hơn.  Rằng tuy Hana có tội nhưng không trầm trọng như người ta đã kết tội nàng.
     
    Hai, rõ ràng khi viết chúc thư muốn dâng hết tài sản (dù ít ỏi) của mình để phục vụ cộng đồng Do Thái, Hana đi tìm sự tha thứ.  Người phụ nữ Do Thái từ khi ở phiên tòa cho đến khi gặp Michael ở New York luôn giữ thái độ không tha thứ. Ở cương vị độc giả và khán giả (khi xem phim) tôi có ác cảm với nhân vật này, tuy nhiên càng suy nghĩ tôi càng thấy đây là một thái độ bình thường hiển nhiên.  Có vài học giả đã buộc tội Bernhard Schlink rằng khi ông viết chương này dụng ý của ông là sáng tạo một biểu tượng của sự tha thứ cho hành động diệt chủng dân tộc Do Thái.  Bernhard Schlink nhiều lần giải thích ông không đi tìm sự tha thứ.  Ông nhấn mạnh người ta có thể tha thứ nếu bị đánh đau, nhưng người bị giết thì không thể tha thứ.  Thường thường những người kêu gọi tha thứ hay hòa giải là những người không bị đau đớn, đày ải, hay giết hại.  Cái đau của cá nhân thường là cái đau lớn nhất trong đời và không thể nào quên. Sự không thể tha thứ là một khổ nạn chung của nhân loại.
     
    “Đến bao giờ, Việt nam của chúng ta có được một tác phẩm tương tự thế?”  Tôi xin được phép xem câu hỏi này là một câu tự hỏi cho giới yêu văn chương. Một mơ ước to lớn và thầm lặng.  Tôi không có câu trả lời chắc chắn, họa chăng là, khi nào Việt Nam của chúng ta hội đủ ba điều kiện thiên thời, địa lợi, và nhân hòa. Tôi luôn luôn tin là từ xương máu của dân tộc Việt Nam sẽ mọc lên nhiều hoa quý.
     

  • vương ngọc minh viết:

    - thử hỏi, việt cộng đương [từng giờ/ phút] thẳng tay tàn hại đất nước/ con người việt và xương thịt của người việt nam bây giờ khi nằm xuống là một thứ xương thịt đã bị trộn lẫn/ bị đánh tráo, đến cả dòi/ bọ còn chả dám bám vào thì làm sao mà “.. luôn luôn tin là từ xương máu của dân tộc việt nam sẽ mọc lên nhiều hoa qúy.”
    .. trân trọng.

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

    Thưa anh Vương Ngọc Minh, cám ơn anh đã đọc và góp ý.  Chúng ta ở xứ tự do, nên ai muốn tin hay không muốn tin thì cũng tốt cả.  Thế anh có tin là có ông già Noel không?

  • Ngô Nguyên Dũng viết:

    Gởi Chị Nguyễn thị Hải Hà,
     
    theo nhận xét chủ quan của tôi, một người Việt lưu vong đọc một tác phẩm của một người bản xứ, thì văn phong của Bernhard Schlink quả thật giản dị, nhưng rất linh hoạt, dồi dào cảm xúc. Và, đặc sắc ở chỗ, mở giùm cho người đọc nhiều cánh cửa dẫn ra nhiều hướng suy luận.
     
    Chẳng hạn, trong một bài phỏng vấn tác giả Bernhard Schink, người hỏi có nhắc tới nhận xét của bà Oprah Winfrey, một “siêu sao” truyền hình ở Mỹ, khi bà cho rằng, bà đọc “The Reader” như một tác phẩm có nội dung “xách nhiễu tính dục thiếu niên”…
     
    Và nhiều nhà phê bình văn học khác, đặc biệt ở Hoa kỳ, cho rằng, tác giả có ý biện hộ cho nhân vật Hanna Schmitz, vì mù chữ nên vô tội trong thảm trạng “diệt chủng dân tộc Do thái” là chủ trương và mục đích của chế độ phát-xít Đức quốc xã. Đây cũng là điểm tôi muốn trao đổi cùng Chị trong bài góp ý này.
     
    Trong bài trả lời trước, có đoạn, Chị cho biết: “đến bây giờ tôi vẫn thắc mắc vì sao nàng tự tử?” Câu hỏi này phải dành cho tác giả trả lời, hẳn chính xác nhất. Tôi không dám chắc là tôi hiểu đúng ý tác giả, chỉ xin có đôi lời suy xét dè dặt: Tôi nghĩ rằng, Hanna tự kết liễu đời mình vì tuyệt vọng. Nàng hy vọng chuyện gì sau khi ra tù? Một cuộc sống “bình thường” như đám đông, như một nhân tố không bị ám ảnh quá khứ đè nặng. Và quan trọng hơn cả, với nhân vật tôi, một người trẻ hơn nàng tới hai mươi mốt tuổi. Khoảng chênh lệch tuổi tác càng lúc càng diệu vợi. Có lẽ Hanna đã nhận ra, niềm hy vọng này chỉ là ảo tưởng, vì thái độ của nhân vật tôi, bắt đầu từ khi gởi cho nàng những cuộn băng cát-sét đọc truyện, mà không hề biên cho nàng một chữ, mặc dù biết nàng đã tự học đọc và viết ở trong tù. Nên, theo lời bà giám đốc nhà giam kể cho nhân vật tôi sau đó, rằng, khoảng thời gian sau này Hanna không còn để ý chăm sóc vóc dáng và vệ sinh cá nhân kỹ lưỡng như trước, nàng ăn uống thiếu điều độ đến nỗi phát phì, và thân thể nhiều lúc nặng mùi.
     
    Đến khi, nhân vật tôi vào thăm nàng vài ngày trước khi nàng được thả. Nhân vật tôi ngồi cạnh một Hanna đẫy đà, cằn cỗi, và nhớ lại mùi hương thân thể nàng thuở trước. “Thân thể nàng lúc nào cũng toả hương thanh khiết: hương tắm gội, hương quần áo lót mới thay, hương mồ hôi mới hoặc hương yêu đương mới…” (Đây cũng là một đoạn văn tuyệt đẹp, chị Hải Hà ạ!).
     
    Mùi hương ấy bây giờ chỉ là: “Tôi ngồi cạnh Hanna và bắt được mùi đàn bà già nua. Tôi không biết, điều gì đã quyện ra mùi hương này, cái mùi mà tôi biết được từ bà nội bà ngoại, từ mấy cô dì lớn tuổi và đọng ám trong phòng, ngoài hành lang những viện dưỡng lão như một lời nguyền rủa. Hanna còn quá trẻ cho mùi hương ấy.
    Tôi xích lại gần hơn. Tôi nhận ra, bấy lâu nay tôi đã làm nàng thất vọng…”
     
    Những chi tiết này, theo tôi, cho thấy thái độ độ lượng nhưng dửng dưng, một kiểu “tình yêu có giới hạn”, của nhân vật tôi đối với Hanna.
     
    Thêm vào đó là những dữ kiện về tội ác của Đức quốc xã đối với dân tộc Do thái, mà Hanna đã tự ý tìm đọc qua sách báo trong thư viện nhà giam, theo lời kể của bà giám đốc. Tôi không nghĩ rằng, vì mù chữ mà Hanna đã không biết được những gì nàng làm trước đó trong trại tập trung. Nàng biết chứ, biết nhưng chưa ý thức được việc làm của mình. Đồng loã với tội trạng giết người tập thể, dù ý thức hay không, vẫn có tội.
     
    Trong bài góp ý trước của tôi, tôi có nhắc tới câu văn của Maugham về thảm kịch của tình yêu… Phải chăng, chính vì nhận ra điều này, mà Hanna quyết định kết liễu đời mình?
     
    Về cuốn phim, vì tôi chưa xem, nên không thể có ý kiến trao đổi cùng Chị.
     
    Hy vọng sẽ có dịp góp ý cùng Chị trong một dịp khác, về một quyển sách khác.
     
    Trân trọng,
    Ngô Nguyên Dũng.
     

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

    Xin trân trọng sự chú ý anh đã dành cho bài điểm sách.  Hy vọng sẽ có dịp trao đổi ý kiến về những quyển sách khác.  Cám ơn anh rất nhiều.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)