Trang chính » Da Màu và Bạn, Tạp ghi Email bài này

Những cánh chim di

Da mau & Ban – tap ghi
Nguyễn thị Hải Hà

Nhân đọc Bay theo đàn chim thiên di của nhà văn Nguyễn Xuân Thiệp

 

Chim là một con vật đẹp. Hầu như mọi người đều yêu hình dáng và tiếng hót của chim. Người Mỹ lập ra những câu lạc bộ yêu chim cứ đến mùa là đi ngắm chim ở trong rừng hay các đầm lầy. Dân Mỹ sống ở ngoại ô treo những lồng chứa thức ăn cho chim trên cây quyến rũ chim về sân nhà mình để ngắm bay lượn và nghe chim hót. Nhà thơ Walt Whitman đã từng ca ngợi chim là loài vật không hề biết khuất phục; chưa có loài vật nào đáng kính trọng hơn và làm việc chăm chỉ hơn. Chim chiếm một chỗ đáng kể trong văn học Việt. Phạm Thiên Thư có nhiều câu thơ rất đẹp mang hình ảnh của chim như:

Hạc xưa về khép cánh tà
Tiếng rơi từng giọt mưa sa tần ngần

Chim đi vào văn học dân gian qua vô số ca dao:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Cũng nhờ vào dáng cò còm cõi đó, nhà thơ Tú Xương đã thể hiện tấm lòng ông tri ân vợ:

Lặn lội thân cò nơi quảng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Dĩ nhiên không phải chỉ có người Việt thích ca ngợi nhắc nhở chim. Người Trung hoa có một ngôi lầu được một con hạc màu vàng ghé thăm mà nhà thơ Thôi Hiệu (704 – 754) đã ca tụng bằng một bài thơ hay đến độ Lý Bạch còn phải gườm. Bài thơ đã được nhà thơ Vũ Hoàng Chương dịch như sau:

Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một mầu mây, vạn vạn đời

Hàn mặc Tử đã từng ngâm nga:
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về.

Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê

Trông nhạn về, có nghĩa là nhạn đã từng ở nơi nhà thơ ở, và đã ra đi, nơi nào nhạn đến, và tại sao nhạn đi? Trịnh công Sơn đã thể hiện hình ảnh tuyệt vời cô gái Việt Nam qua câu thơ vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc. Trong một bài hát khác ông cũng tự hỏi Làm sao em nhớ những cánh chim di. Có phải nhạc sĩ đã nghĩ đến những con chim di cư đi tìm cuộc sống mỗi năm bay qua và trở về trên bầu trời nơi ông ở?

Tất cả những loài chim đã được nhắc tên qua những câu thơ nói trên: cò, vạc, hạc, và nhạn đều là những loại chim hằng năm vì sự sống đã bỏ xứ ra đi rồi quay về khi thời tiết thay đổi thích hợp cho cuộc sinh tồn của chúng.

Cò, theo tự điển Việt Anh của Đặng Chấn Liêu là stork. Loại cò stork này được người Mỹ xem là biểu tượng báo tin vui khi trong gia đình có trẻ sơ sinh, dựa vào huyền thoại cò stork mang cái bọc có đứa trẻ sơ sinh đến giao cho người mẹ. Cò stork là một loại chim to, khi dang cánh ra từ đầu cánh bên này cho đến đầu cánh bên kia dài hơn ba mét. Đây là loại cò mà một nhà văn ở châu Âu đã kể rằng ông biết mùa thu đến khi thấy chú cò hằng năm bay về đậu trên cây trong sân nhà ông. Chú thường tìm cách câu những nàng cá vàng ông nuôi trong hồ. Đôi cánh cò dang ra rợp cả một góc hồ làm con chó nhỏ của ông, thường vẫn giữ nhiệm vụ bảo vệ đàn cá, sợ hãi chùn chân, rồi thụt lui và bỏ chạy. Hình ảnh con chó nhỏ hoảng sợ chú cò thật là đáng yêu làm tôi phải mỉm cười. Đây là loại cò hằng năm bay hơn ba ngàn dặm từ châu Âu sang châu Phi. Cò stork không phải là loại cò nhỏ bé ẻo lả ở Việt Nam thường khi đậu trên lưng trâu vài ba con cùng một lúc. Cò Việt Nam nhỏ bé yếu đuối nên dễ bị bắt nạt vì thế mới có câu thơ:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Và vì thế nên phải van nài:

Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo tôi.

Cò ở Việt Nam có lẽ là cò quăm tiếng Anh là Ibis; hay có thể đó là egret còn được gọi là con diệc bạch.

Tôi vẫn ngờ ngợ, hạc là con vật chỉ có trong huyền thoại được các vị tiên cưỡi đi trong đêm. Sách vở có chữ flamingo để chỉ loài hồng hạc. Thế còn hạc vàng trong bài thơ của Thôi Hiệu và hạc trắng trong bài thơ của Phạm Thiên Thư là loại chim gì? Có phải chúng chính là, hay ít ra có họ hàng với, whooping crane hoặc là red crown crane. Người Việt mình gọi crane là sếu nghe mất vẻ thơ mộng của loài chim bay về chốn thiên thai như câu thơ của Tản Đà Cái hạc bay lên vút tận trời. Whooping crane hằng năm thiên di từ miền Siberia về miền Đông Nam châu Á và Việt Nam nằm trên đường bay của chúng. Cũng rất có thể hạc là những con sếu mào đỏ (red crown crane) thường sống ở đảo Hokkaido bên Nhật.

Cò, diệc, vạc, hạc có dáng dấp hao hao giống nhau với cổ cong cong và cái cẳng cao cao. Chim nhạn, đã được nhắc đến qua bài thơ của Hàn Mặc Tử, và trong bài hát Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh có câu “ngóng về phương xa chờ tin nhạn” không có cổ cao chân dài như cò, nhưng cùng là loại chim thiên di hằng năm như cò và các loại chim được nhắc đến bên trên.

Vạc theo tự điển là night heron. Tuy nhiên night heron không có dáng thanh thoát của cánh vạc mà Trịnh Công Sơn ca tụng. White heron và blue heron thì mang dáng dấp gầy guộc ẻo lả có vẻ thích hợp với hình ảnh của người con gái trong bài hát của Trịnh Công Sơn hơn.

Jacques Perrin, đạo diễn của cuốn phim Winged Migration, khi tái tạo đường thiên di của loài whooping crane đã mang đoàn quay phim và các diễn viên chim vào miền Bắc Việt Nam. Nơi đây vì dụng cụ làm phim của ông còn bị kẹt lại ở Sài Gòn, những gì máy móc có thể thay thế bằng sức người đều được thay thế bằng sức người. Ông ta đã thuê một cỗ xe bò cho một chú ibis còn gọi là cò quăm nhặt lúa trên xe bò trong lúc đàn sếu (whooping crane) bay lượn trên cánh đồng có những ngọn núi đá vôi tương tự như những ngọn núi tôi đã nhìn thấy trên đường đi từ Bắc vào Nam năm 2005. Đoạn phim rất ngắn và dẫu biết màn phim này đợc sắp đặt dàn cảnh, lòng tôi vẫn mềm đi khi nhìn đàn chim trắng lượn trên cánh đồng xanh. Tôi không thể kềm lòng nghĩ đến câu ca dao và điệu dân ca cò lả: con cò bay lả bay la, bay qua ruộng lúa bay về đồng xanh. (Xem ảnh 1) Tôi không khỏi cảm khái nghĩ thầm “quê hương tôi đó.”

Nếu ông nhà văn ở châu Âu, hằng năm nhìn cánh cò trở về bói mấy con cá ông nuôi trong hồ, có khi mang theo về một cô bạn gái, thì tôi nghe tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao của đàn ngỗng trời, hay tiếng vỗ cánh rào rạt như tiếng bão mà không có gió của đàn sáo sậu lượn từ cành này sang cành khác trong bầu trời xám như sương mà biết là mùa Thu về. Và tôi cũng suýt buột miệng bảo rằng “quê hương tôi đó” khi nhìn thấy đàn ngỗng tuyết (snow geese) trong cuốn phim Winged Migration bay ngang vùng New York và New Jersey giữa rừng phong đỏ thắm. (Xem ảnh 2 ). Ngỗng tuyết làm tổ trên đảo Bylot ở phía Bắc của Canada đối diện với Greenland làm cuộc thiên di; đường bay của chúng ngang qua vòm trời nơi tôi đang sống. Tiếng chim thiên di là tiếng thu ít khi được các nhà thơ ca tụng nhưng với tôi rất thơ mộng vì âm thanh này làm cho tôi nhớ lại một câu truyện về một chú bé bị một lời nguyền biến thành người tí hon. Chú trộm cây kim của mẹ để làm cây gươm và cỡi trên lưng một con ngỗng đi cứu một công chúa ngỗng và nhờ đó chú trở lại thành người. Những nguy biến làm cho chú trở nên trưởng thành và chú trở thành một đứa bé biết điều chứ không nghịch ngợm hư hỏng như trước kia. Cái hình vẽ chú bé cỡi trên lưng ngỗng có cái khăn quàng bay bay là một trong những hình ảnh thơ mộng thời thơ ấu của tôi.

Gần nhà tôi có một cái hồ rất đẹp mà các chú chim Canada trên đường di cư đã dừng lại rồi chọn nơi này làm quê hương (xem ảnh 3). Mongibeaux, một nhà văn Pháp viết cho tạp chí Figaro Magazine, đã bảo rằng chim không có khái niệm biên giới. Quê hương của nó là nơi nó tập bay lần đầu tiên. Nơi nào có thức ăn, khí hậu không quá khắc nghiệt, không có những nguy hiểm cận kề, có thể dung dưỡng chúng được thì nơi đó là quê hương. Quan niệm về quê hương của loài chim nghe ra cũng giống quan niệm về quê hương của nhiều người Việt Nam xa xứ. Quê hương thứ nhất là nơi chúng ta sinh ra đời. Quê hương thứ hai là nơi chúng ta chọn để sống.

Nói về cuộc thiên di của loài chim không thể bỏ qua Winged Migration, một phim “tài liệu” do Jacques Perrin làm đạo diễn ra mắt khán giả năm 2001. Gọi là phim tài liệu nhưng thật ra đây là một loại phim đặc biệt mà diễn viên là vài tá chim thuộc nhiều loại được huấn luyện bằng phương pháp imprinting. Người ta chọn một số chim, ngỗng, cò, sếu, vạc, ấp trứng của chúng bằng phương pháp nhân tạo, huấn luyện chúng cho quen với sự hiện diện của loài người, quen tiếng nói và hiệu lệnh của huấn luyện viên, quen với tiếng còi, quen với máy móc, thức ăn, và tất cả những gì cần thiết để thực hiện nhiệm vụ là bay qua những đoạn đường mà loài người phỏng đoán là đồng loại của chúng hằng năm đã làm những cuộc thiên di. Phái đoàn làm phim ghi nhận cuộc sống và thiên nhiên với tầm nhìn của các loại chim. Phim được quay trong bốn năm, qua bảy lục địa (năm châu và hai cực Nam Bắc). Không hẳn là phim tài liệu, bởi vì phim không nghiên cứu về đời sống, thói quen sinh con đẻ cháu của loài chim theo phương pháp khoa học. Đây là một cuốn phim ngoạn mục, có mục đích giải trí, bao gồm hơn bốn mươi loài chim lạ, hiếm, và đẹp (sếu mào đỏ, thiên nga, ngỗng mặt rằn, hồng hạc, greater grouse, phoebe, pelican…) đã bay qua những kỳ quan của thế giới (Vạn Lý Trường Thành, tháp Eiffel, Twin Tower, Monument Valley, lãnh nguyên Siberia, samạc, đảo Hokkaido, …) và những biến động nguy hiểm của thiên nhiên như cơn tuyết lở hay núi băng sụp. Tôi đã xem phim này nhiều lần và mê mẩn với những đoạn phim tuyệt diệu. Ở vùng biển phía Bắc Đại Tây Dương có loài gannets là những con ó biển lông trắng mỏ vàng rất xinh xắn, nhưng trước khi nói thêm về loại ó biển này tôi cần phải nói đến một đoạn trong cuốn phim họa hình Spirited Away của Nhật. Phim Spirited Away nói về cô bé Chihiko đã kết bạn với Haku, một thiếu niên vốn từng là một con rồng trước đây đã cứu cô bé khỏi chết đuối. Chú bé này vì bị mắc một lời nguyền phải làm nô lệ cho một bà phù thủy ác độc. Để thoát khỏi thân phận nô lệ Haku phải biến thành rồng đi tìm phương pháp giải lời nguyền và thường bị tấn công. Kẻ địch của chú là một đoàn chim trắng bằng giấy lao vào thân người chú như những mũi tên nhọn gây thương tích cho chú. Tôi nhìn đoàn ó biển lông trắng mỏ vàng lao từ không trung xuống mặt biển. Ở trên không trung chúng giống như hỏa tiễn lao đầu xuống biển và khi đến gần mặt biển đôi cánh của chúng thu hẹp lại chúng biến thành những mũi tên trắng đâm vun vút xuống, bén ngót không tóe nước. Trông chúng giống như những chiếc phi cơ kamikaze tấn công các chiến hạm và cũng giống như đoàn chim giấy đã tấn công Haku.

Hơn 40 loại chim xuất hiện trong Winged Migration, với gần hai chục loại chim là diễn viên chính của cuốn phim. Đã nhắc đến cuốn phim này không thể không nói đến phần nhạc đệm của Bruno Coulais, một nhà viết nhạc người Pháp. Thiếu phần nhạc đệm cái hay của phim sẽ giảm đi rất nhiều. Những bước chân sánh đôi của loài hạc mào đỏ sẽ không có vẻ nhịp nhàng như một bài khiêu vũ của loài chim tiên trên đảo tuyết Hokkaido nếu thiếu tiếng dương cầm nhịp nhàng và giọng nữ tứ ca bay lãng đãng như những bài dân ca Đông Âu trên vòm trời sương khói trong bài The Return of the Crane. Nhìn thấy những đôi cò stork ngửa cổ, bước lêu nghêu chấp chới giao tình trên sa mạc ngun ngút khói là một cảnh tượng đẹp mắt (xem ảnh 4) nhưng không đạt đến mức huyễn tưởng nếu vắng tiếng hát như lời cầu kinh của những người Hồi giáo râm ran trên vòm trời với giọng nam trầm của ban nhạc A Filetta. Và khi người ta tưởng là phim đã hết, không còn gì để thưởng thức thì bài hát đầy âm điệu ngọt ngào như nhạc Việt Nam, To be by Your Side, do giọng hát trầm ấm sung mãn của Nick Cave cất lên làm tăng cảm giác bàng hoàng, vừa xót xa vừa thán phục những cuộc di cư gian khổ mà lãng mạn của loài chim. Bài hát mở đầu bằng những nốt rời, tiếng thánh thót của dương cầm, nghe như tiếng chuông hay tiếng khánh, có những câu như vượt chục đại dương vượt trăm sông dài, bóng tối âm u rừng thẳm cây dày. Hay. Nhưng phải nói, đoạn thứ hai trong bài hát, với tiếng hồ cầm cò ke như tiếng kêu xé gió tuyệt vọng, tiếng đập cánh nhịp nhàng, tiếng gõ nhịp của dùi trống như tiếng tim đập thổn thức, tiếng thở hổn hển kiệt quệ của những con chim vượt biển mới làm tôi… muốn khóc.

Every mile and every year. For every one a single tear. Từng dặm xa và hằng năm qua. Cho mỗi chúng ta một giọt lệ nhòa. Nick Cave hát thế nhưng khi không hiểu tại sao óc tôi cứ liên tưởng đến chữ fear thay vào chữ year và cứ thế tôi nghĩ đến từng dặm trên biển cả một phần dân tộc đối diện với nỗi kinh hoàng của cái chết, cho mỗi vì sao rơi là một giọt lệ đắng nghét. Có những con nhạn biển bay từ cực Nam đến cực Bắc vượt hằng chục ngàn dặm trên biển. Tôi nhìn chúng mà nghĩ đến thân phận những người vượt biển trong đó có dân tộc Việt Nam đi tìm cuộc sống mới. Khác với những con chim bay về xứ ấm để tìm cuộc sống thì chúng tôi lũ chim tách bầy bỏ đàn bay ngược về xứ lạnh để tìm một quê hương thứ hai. Và trên đường thiên di có biết bao nhiêu con chim gãy cánh bỏ đường bay.

Người Việt Nam đã làm nhiều cuộc di cư. Khởi đầu là cuộc Nam tiến trong lịch sử, rồi đến những cuộc di cư nhỏ từ sau năm 1945 phần lớn từ Bắc vào Nam. Từ năm 1954 khi đất nước chia hai bên cạnh cuộc di cư ào ạt từ Bắc vào Nam có những cuộc di cư thầm lặng từ Nam ra Bắc. Người Việt Nam thường hay nói. Đất lành chim đậu nên khi đất không lành chim bay. Ta yêu chim không chỉ vì chim đẹp và trang điểm cho cuộc đời. Chim còn là biểu tượng tự do của loài người.

Chim cũng như người, bỏ xứ ra đi với một mục đích, tìm đất sống. Và người cũng như chim trong mỗi cuộc di cư luôn ấp ủ một lời hứa hẹn. Lời hứa sẽ trở về.

clip_image002

Ảnh 1 – Cò quăm trên xe trâu ở Bắc Việt gần biên giới Trung hoa.

clip_image004

Ảnh 2 – Ngỗng tuyết bay ngang Bắc Mỹ

clip_image006

Ảnh 3 – Chim từ Canada nhận New Jersey làm quê hương

clip_image008

Ảnh 4 – Cò trên sa mạc Phi châu

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


6 bình luận »

  • NQT viết:

    “ngóng về phương xa chờ tin nhạn”
     
    Câu này, trong bài Tan Tác,
    của Tu Mi:
     
    Tan Tác
     
    Mây bao la trời đen u tối
    Đêm đông trường lữ khách bâng khuâng
    Ngóng về phương xa chờ tin nhạn…
    nhưng nhạn nào có biết nơi nao mà chờ,
    Nhạn còn véo von bay cao bay xa tít . . . .
    chẳng có hẹn ngày về tìm ai nơi nao
     
    Nhạn còn say mê những bông hồng tươi thắm
    nô đùa cùng ngàn cành liễu lả lơi như gợi tình Xuân.
    Nhạn còn mải bắt bướm vàng xinh xinh bay lướt nhẹ nhịp nhàng bên ngàn suối trong . . .
    Bây giờ chim đã bạt ngàn khôn tìm . .
    Cách sông cách núi muôn trùng
    gió ơi, gío đưa chim về cùng ta kẻo ta mong . . .
    gió im gió chẳng trả lời . . .
    Chim hỡi hận lòng quyết gởi mây bay kiếp sau hẹn gặp . . .
    kiếp này đành thôi
     
    Nguồn Đặc Trưng
     
     

  • Hà Đạo Hàm viết:

    Xin có ý kiến với nhà văn Nguyễn thị Hải Hà.
    ” Ngóng về phương xa chờ tin nhạn”  là câu trong bài hát Tan tác của Tu Mi chứ không phải Chiếc lá cuối cùng của Tuấn Khanh.
    Hà Đạo Hàm
     

  • KLuan viết:

    Chị Nguyễn Thị Hải Hà viết bài tạp ghi này nhân đọc một bài của nhà văn Nguyễn Xuân Thiệp. Tôi cũng có một vài cảm nghĩ nhân đọc bài này của chị:

    1.  Tôi không biết chim di có phải là “chim di cư đi tìm cuộc sống” hay không. Với một trí tưởng tượng nhiều khi khác thường, tôi vẫn thường nghĩ chim di là một loài chim nào đó, như chim hoàng anh hay chim se sẻ. Và tôi cũng chưa thấy ai nói cho biết chim di là loại chim gì, nên lòng lúc nào cũng thắc mắc. Trong bài Diễm Xưa, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết: “Làm sao em biết những vết chim di” mà tôi nhớ là hồi xưa trong một bài viết về nhà nhạc sĩ họ Trịnh, người ta có đăng một tấm hình vẽ một vài dấu chân chim và cho đó là “vết chim di”. Vậy thì chị (cũng như nhà văn Nguyễn Xuân Thiệp) đã có lí – từ “di” ở đây là một tính từ chứ không phải là một danh từ như tôi vẫn lầm tưởng. Vì thế, mơ tưởng của tôi về một loài chim lạ đã bị tiêu tan từ đây rồi!

     2.  Nhắc đến thân phận của những “lũ chim tách bầy bỏ đàn bay ngược về xứ lạnh để tìm một quê hương thứ hai. Và trên đường thiên di có biết bao nhiêu con chim gãy cánh bỏ đường bay.” Tôi lại liên tưởng tới câu thơ của Tagore: “Bird, O my bird, listen to me, do not close your wings” mà ông Đỗ Khánh Hoan đã chuyển ngữ như sau: “Chim, chim của ta ơi, lắng nghe lời ta nói, đừng vội khép cánh ngừng bay chim nhé.”

    3.  Tôi đã mỉm cười khi đọc tới câu “có những cuộc di cư thầm lặng từ Nam ra Bắc” khi đất nước chia hai, nhất là vì “Đất lành chim đậu nên khi đất không lành chim bay”. Và rồi “Chim là biểu tượng tự do của loài người” khiến tôi nhớ tới một bài của Tưởng Năng Tiến viết về thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng đầu thập niên 80: Xuân về không có tiếng chim kêu rộn ràng đón mùa vì trong thành phố người ta không thể tìm ra được đến một con chim. Lí do giản dị là chúng đã bị bắt ăn thịt hết cả rồi.

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

    Xin cám ơn anh NQT và anh Hà Đạo Hàm đã chỉnh sai dùm.  Ngay sau khi gửi bài đi Hà đã nhận thấy cái sai của mình nhưng không sửa kịp. Gọi đại bằng anh nhưng thật ra không biết nên xưng hô như thế nào. Hân hạnh được các anh ghé mắt đọc dùm.  Trân trọng.

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

    Cám ơn anh Kluan đã đọc và chia sẻ cảm tưởng.  Tôi rất thích những cái mìm cười của anh, thật là nhiều ý nghĩa.  May là bài viết của tôi không làm ai mếu.

  • gã Sáu viết:

    xin chào  nhà điểu học NTHH. công phu sưu khảo thể hiện sức đọc củA  HH là ‘awsome’, thế mà vẫn sai sót. không sao.chủ yếu là đem lại nụ cười, nhất là khi nói về chim, hoa và người đẹp. Hạc là loài chim quí vừa về biểu tượng, tính huyền thoại, vừa vẻ đẹp thanh thoát tự nhiên. Hạc là loài chim có thật , thuộc bộ Hạc ciconia gồm hạc đen, hạc trắng, hạc trắng cổ hồng. (hồng hạc flamingo không thuộc bộ hạc). Không thấy ghi hạc vàng, có thể là loại ‘fairy crane’ vì đa phần sau khi bay đi trú đông , các loài thiên di (không phải chim di của HH  là họ  SẺ, passeniformes) đều quay về tổ, riêng con hoàng hạc của Thôi Hiệu lại ‘hoàng hạc nhất khứ bất phục hồi’. Tôi ngờ nó cũng thuộc loài re-crowned crane, môt loài hiếm quí từ Mãn châu Bắc Á bay qua Tàu về trú đông tại vùng ĐNA, trong đó có loài hạc trắng cổ hồng trú đông tại quê tôi (vùng Nam định, Giao thủy). Có điều khi dịch sang  tiếng Anh, hạc, vạc, sếu (gruidae) đều là crane. The Cranes are flying, Khi đàn Sếu bay qua, Hoàng Hạc lâu, Yellow-Crane Tower.  Hạc trong văn học dân gian được coi như loài chim thiêng, dùng làm chân đèn trong miếu mạo, là ngựa chiến cho các thần thánh, là vật đưa các vị tiên, thiền sư ngao du bồng lai tiên cảnh, là biểu tượng của trường thọ (tuổi hạc là trên 60), vóc dáng (mình gầy vóc hạc), âm thanh (tiếng hạc trong  sương), hạc trắng tượng trưng thiền nhân ẩn sĩ, triết lý vô vi, hình tượng bất tử. Nhật tuy là xứ mặt trời, nhưng logo của Japan Airlines là hạc trắng. Trung quốc định lấy quốc tượng là hạc nhưng vì hạc có tên khoa học là Gus Japonenis nên thôi.

    Là người Việt loài chim xa xứ, tôi rất thích khi HH  viết về bài thơ Hoàng Hạc Lâu. Cũng có giai thoại của giáo sư Shu Yen nói Lý Bạch đòi đốt HHL  để xây lại cho ông viết bài thơ mới,  vì bài của TH quá hay. Bài thơ naỳ được ít ra cũng hơn chục nhà thơ, học giả dịch ra tiếng Việt, theo tôi bản của Tản Đà hay nhất, đặc biệt hai câu: Hạc vàng đi mất từ xưa/Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay. Nguyễn Du khi đi sứ Tàu cũng ghé Hán Dương thăm HHL, đã đề vịnh câu Nhật mộ hương quan hà xứ thi (chiều tối rồi, không biết quê nhà ở đâu) bằng Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu (chiều nhớ quê hương, ai ai cũng chung một mối sầu). Nực cười nhất là Mao trạc Đông thời Vạn lý trường chinh cũng ghé HHL (1927), đề tặng mấy câu: The Yellow-crane is gone/Only this tower remains a haunt for visitors. Ba mươi năm sau, cũng MTĐ phát động chiến dịch tiêu hủy văn hóa Tàu!

    Tuy được ví von như loài chim thiên di, đàn chim xa xứ, nhưng tôi vẫn nhớ về đồng ruộng  Việt nam với ‘những cánh cò trắng khiêng nắng qua sông’. Cám ơn HH đã gợi lại chút ký ức xưa.  gã Sáu

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)