Trang chính » Da Màu và Bạn, Sáng Tác, Tạp ghi Email bài này

Hơi chữ

Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Hoàng và bạn hữu

(đọc là một lặng lẽ tỏa đầy hơi)

Chữ chỉ là một ký hiệu, giống như bao ký hiệu khác bên ngoài. Mũi tên thì chỉ đường đi, đèn đỏ thì xe ngừng lại, trái tim thì chỉ tình yêu…Mỗi một chữ tự nó không có nghĩa gì hết. Nó ám chỉ một cái gì khác hơn chính nó. Nhưng khi chúng kết hợp với nhau bằng một cách nào đó, thì tính cách ký hiệu của chúng dường như thay đổi. Hành vi đọc, không còn là đọc những ký hiệu, mà là đắm mình vào trong một thế giới khác cái thế giới mà ta đang hiện diện. Nhìn một bức tranh, ta còn thấy những chi tiết của nó: màu đỏ, màu xanh, màu đen, đường cong, đường tròn, chỗ đậm, chỗ lạt. Đọc – thì cũng là nhìn -, nhưng dường như ta chẳng hề thấy chữ “a”, chữ “b”, chữ “ư”, chữ “ơ”, hay chữ “chàng”, chữ “em”, hay câu ngắn câu dài, hay chữ đẹp, chữ xấu, mà thấy từng chuỗi chữ kết nối nhau. Mà dường như ta không hề thấy. Ngược lại, ta nghe, ta cảm, ta ngửi. Y như những con chữ có thể bốc lên, tỏa ra. Nghe có hơi. Tôi gọi là hơi văn, hơi thơ. Nói chung là hơi chữ. Với tôi, đọc là một lặng lẽ tỏa đầy hơi!

Hơi thơ thường dễ nhận biết. Có lẽ nhờ có vần có điệu. Trong những bài thơ cách tân, vần điệu không còn đóng vai trò chính, và cấu trúc thơ khác đi. Cấu trúc khác, hơi thơ cũng khác.

Ở đây, chỉ xin nói chuyện văn.

1.

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

(…)Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.

Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.(Thanh Tịnh/Tôi đi học)[i]

Đoạn văn mở đầu và đoạn kết của Tôi đi học mà ai hầu như ai cùng thế hệ tôi cũng còn nhớ này, sở dĩ nó tồn tại lâu dài trong ta, dĩ nhiên, là do nó nhắc nhở một thứ kinh nghiệm đầu đời đầy xúc cảm. Cũng có thể là do nhịp điệu, có thể là do các chữ dùng dung dị và cụ thể, có thể là do hình ảnh mà nó gợi nên. Thì sao cũng được. Nhưng theo tôi, còn do cái hơi văn mềm mại, vuốt ve rất riêng của nó. Khi đọc, tôi có cảm tưởng như mình nhìn thấy những sợi khói toát ra từ chữ nhẹ bay mông lung trong một ngày vắng gió.

Tất nhiên, không phải hơi văn nào cũng mềm mại, vuốt ve. Hơi văn khác từ tác giả này đến tác giả khác. Đôi khi cùng một tác giả, mà mỗi bài, mỗi truyện hay thậm chí mỗi đoạn lại có một hơi khác nhau. Cũng có bài, ta không thấy có hơi. Trong lúc đó, có một số tác giả, văn của họ tỏa ra một hơi hướm riêng biệt vì có cách hành văn khác thường, độc sáng. Có khi, cách viết làm cho ta say mê đến nỗi quên cả cốt truyện và nhân vật. Hơi văn, hơi chữ có thể không quyết định chuyện hay, dở của một tác phẩm nhưng nhất định nó đóng góp phần riêng của nó vào đó.

2.

Năm bẩy mươi tuổi, cha tôi về hưu với hàm thiếu tướng.
(…)Cha tôi về nhà, đồ đạc đơn sơ. Cha tôi khỏe. Ông bảo: “Việc lớn trong đời cha làm xong rồi!” Tôi bảo: “Vâng”. Cha tôi cười. Tâm trạng xúc động lây sang cả nhà, mọi người chuếnh choáng đến nửa tháng trời, sinh hoạt tùy tiện, có hôm mười hai giờ đêm mới ăn cơm chiều. Khách khứa đến chơi nườm nượp. Vợ tôi bảo: “Không để thế được”. Tôi cho mổ lợn, đi mời họ hàng làng nước đến để chia vui. Làng tôi tuy gần thành phố nhưng mà tập tục nông thôn còn giữ. Đúng một tháng sau, tôi mới có dịp ngồi với cha tôi bàn chuyện gia đình.

Trên đây là trích đoạn mở đầu của truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp. Cách viết có nét khác lạ. Ngắn, gọn, tưng tửng. Đọc tiếp một đoạn khác:

Hôm thứ bẩy, mẹ tôi bỗng ngồi dậy được. Đi lững thững một mình ra vườn. Ăn được cơm. Tôi bảo: “Mừng rồi”. Vợ tôi không nói năng gì, chiều hôm ấy thấy mang về chục mét vải trắng, lại gọi cả thợ mộc. Tôi hỏi: “Chuẩn bị à?” Vợ tôi bảo: “Không”. Hai hôm sau, mẹ tôi nằm liệt, lại bỏ ăn, lại đi ngoài như cũ. Người dốc nhanh, thải ra thứ nước nâu sền sệt rất khắm. Tôi đổ sâm. Vợ tôi bảo: “Đừng đổ sâm, khổ cho mẹ”. Tôi òa khóc. Rất lâu tôi mới òa khóc như thế. Vợ tôi nín lặng, rồi lại bảo: “Tùy anh”. Ông Bổng sang thăm. Ông nói: “Bà ấy cứ xoay ngang, xoay dọc trên giường như thế này là gay go lắm đấy!” Lại hỏi:”Chị ơi, chị có nhận ra em không?.” Mẹ tôi bảo: ” Có”. Lại hỏi: “Thế em là ai?” Mẹ tôi bảo: “Là người”. Ông Bổng khóc òa lên: “Thế là chị thương em nhất. Cả làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người”. Lần đầu tiên, cái ông chú đánh xe bò, lỗ mãng, táo tợn, làm đủ mọi điều phi nhân bất nghĩa hóa thành đứa trẻ ngay trước mắt tôi.

(Nguyễn HuyThiệp/Tướng về hưu)

Những con chữ nghe khô khô. Các diễn tả đều tiết giảm đến mức tối đa. Câu kéo trúc trắc y như thiêu thiếu cái gì. Cụt. Lỏi chỏi. Đã thế, lại “tôi bảo”, “tôi nói”, “mẹ tôi bảo”, “mẹ tôi nói”. Hết “nói” lại đến “bảo”, hết “bảo” lại đến “nói”, khiến cho mạch văn cứ như gãy, bể, co cụm lại. Ở một nhà văn khác, tả cái cảnh mẹ đau ốm sắp chết như thế có thể kéo dài ra ít nhất là một trang hay hơn. Đọc tiếp:

Một tối, tôi đang đọc Sputnhich, cha tôi lặng lẽ đi vào. Ông bảo: Cha muốn nói chuyện với con”. Tôi pha cà phê, cha tôi không uống. Ông hỏi: “Con có để ý công việc của Thủy không con? Cha cứ rờn rợn”.
Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai. Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn. Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì. Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu. Tôi lặng đi. Cha tôi khóc. Ông cầm phích đá ném vào đàn chó béc giê: “Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này.” Đàn chó sủa vang. Ông bỏ lên nhà. Vợ tôi di vào nói với ông Cơ: “Sao không cho vào máy xát? Sao để ông biết?!’ ông Cơ bảo: Cháu quên, cháu xin lỗi mợ”.
[ii]

Không có “chuyện”, chỉ thấy “sự”, hết trang này đến trang khác. Mà “sự” cũng bị tướt bỏ hết cả râu ria, cành nhánh. Câu, chữ quánh, nén, tạo ra một thế giới đơn giản, rất ít lời, lại nhiều việc. Hơi chữ bốc lên hăng hăng và cay không kém gì mùi ớt (hiểm).

Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra một cách sắp xếp chữ khác lạ. Bản thân cấu trúc góp phần tăng thêm độ đậm cho ý nghĩa. Chẳng lạ gì, ông đã thổi một luồng gió mới vào văn chương Việt Nam trong nước, và cả ngoài nước.

3.

Tay thày nhỡ sao được. Tay ấy vê ngón tay tôi, vuốt mu bàn chân tôi, không quên một ly; tay ấy chẳng bao giờ chạm cái nốt ruồi, lần nào cũng quây gọn nó rồi lại thả nó, như vừa đánh vây vừa nhử; tay ấy nhổ tóc tôi tí tách, mỗi bụi tóc đủ hai mươi chín chiếc vừa bằng tuổi tôi; tay ấy kéo tai tôi ròn tan, bảy mươi tám chỗ kêu trên người tôi chẳng lầm chỗ nào; tay ấy mỗi lần trườn ngang nách tôi đều dừng tuyệt khéo sát chân triền ngực. Mắt người mù là ở ta. Tay ấy mười con mắt. Bây giờ tay ấy ôm ngang eo tôi, lùa trên bụng tôi, tỏa xuống ngang hông, chập chờn, thăm dò. Rồi quả quyết chườm quanh rốn. Rồi xoa, mỗi vòng một rộng, tay này đuổi tay kia, một quành xuống bụng dưới và một lội qua vùng ngực. Rồi ngọt ngào miết dọc những dẻ xương sườn. Rồi miết đi miết lại từ cổ xuống ức, lách giữa hai bầu ngực. Chồng tôi thấy chúng khít e vướng, nên khẽ nhón hai chỏm, rẽ ra cho rộng chỗ. Rồi tôi chẳng biết tay ai là tay ai nữa. (Phạm Thị Hoài/Ám thị)[iii]

Đề tài của Phạm Thị Hoài rất mới[iv]: một ông chồng học nghề tẩm quất bằng cách để cho ông thầy mù dùng thân thể vợ mình làm chỗ chỉ dẫn và thực tập. Nếu Nguyễn Huy Thiệp đơn giản hóa đến cùng các chi tiết, các sự kiện, thì Phạm Thị Hoài, ngược lại, đi đến cùng các chi tiết. Và cũng khác với Nguyễn Huy Thiệp tập trung phần lớn vào đối thoại, thì Phạm Thị Hoài tập trung hoàn toàn vào diễn tả. Truyện chẳng có “biến cố” nào ngoài tâm cảm của người đàn bà nghe ngóng chuyển động của “tay ấy” trên thân thể mình. Riêng hai chữ “tay ấy” thôi cũng đã nói lên nhiều điều. Tác giả săm soi từng chi tiết chuyển động của “tay ấy”. “Tay ấy” thông minh, rành rọt mọi ngóc ngách trên thân thể nhạy cảm của thân xác phụ nữ. “vê”, “vuốt mu” , “quây gọn”, “nhổ …tí tách”, “trườn ngang”, “lùa trên”, “chườn quanh”, “lội qua ngực”, “miết dọc”, “lách giữa”…Chừng như nắm rất vững mọi cảm giác của nhân vật vợ. Những chi tiết gợi hình được diễn tả bằng những câu văn gọn gàng, chuẩn. Chữ dùng chọn lọc, đầy dụng công. Tác giả nỗ lực lột tả những cảm giác hết sức tinh tế và đặc thù của người phụ nữ trong một tình huống cũng hết sức đặc thù. Ta có cảm giác như những con chữ xoắn xít, chen chúc, dồn đẩy nhau. Hơi chữ toát lên vẻ trông ngóng tinh nghịch và …erotic! Trong lúc truyện dường như chẳng erotic chút nào cả. Chỉ là ám thị!

Tám giờ thày không tới. Chín giờ cũng không tới. Bóng tối căng thẳng. Chồng tôi im lìm. Nhà tôi hôm nay không dọn, bàn ghế lại kê rất trắc trở, vấp là ngã vào đám chai lọ bày sẵn trên sàn. Tôi nằm bồn chồn như thuở nhỏ rình ma trong đêm. Lần này tôi sẽ không ngủ quên. Tháng mười một trời còn lâu mới sáng. Chín mù rởm kệ chín, cốt ở người thứ mười mù chân chính. Sao chồng tôi ưa tin ở thiểu số sáng suốt bỗng nản lòng sớm thế vì số đông? Ðêm còn dài lắm và tôi còn đủ kiên nhẫn tin vào một cặp mắt xứng đáng tàn tật. Cầu cho thày mù. Mù trong sáng, tinh tường, kiêu hãnh. Mù mà dễ cho thày và đỡ phiền ai thì hãy mù hết lòng. Mù toét. Mù đặc. Mù hẳn. Mù vô vọng. Mù như khoét mắt bỏ đi. Mù cho chồng tôi ghi ơn tri kỉ. Mù làm khách quý trong nhà tôi mãi mãi. Mù từ hôm nay cũng chưa muộn. Tôi sẽ dẫn tay thày đến những chỗ cần tới. Tôi thuộc lắm đường đi lối lại. Tôi chờ chiều chuộng đã chín nẫu. Sao thày không ung dung bước qua bóng tối đến đây như bao ngày cho tôi rơi vào lòng?
Ròng rã bao nhiêu chờ đợi, tôi không đếm nổi. Không đếm những cú đấm cú véo và chà đạp, những vết bầm tím, máu me, sưng húp, rách nát, mỗi lần chồng tôi nọc vợ ra tẩm quất. Khi không chỗ nào trên cái bị thịt méo mó là tôi còn lành lặn, anh chẳng đụng tới nữa. Rồi cũng bỏ đi, không nhắn lại lời nào, như thày tẩm quất.

4.

Khí hậu trong nhạc tình Từ Công Phụng, theo cảm nhận của tôi, là cái khí hậu ẩm đục những cơn mưa. Ðầm đìa những lệ mặn, chát đắng những quá khứ. La đà những cây, trái thất lạc tương lai. Ðồng thời, người nghe cũng có thể cảm được những tay ôm, vỗ về của biển. Những chân đi chập chùng của gió. Những rét mướt của rừng. Những bơ vơ của núi. Những ngơ ngác phố cũ. Những rữa nát thềm xưa. Những cỏ cây. Chim muông. Hình bóng. Kỷ niệm… Tất cả, dường đã cùng thức dậy, đứng lên, buồn bã, chông chênh bước vào tâm hồn người thưởng ngoạn. Vì trong rất nhiều tình khúc của Phụng, hạnh phúc đã tựa như lời nói dối; nếu hiểu, tình yêu, vốn là điều không thật! Nói tới tình ca, tôi nhớ, tình cờ đọc được ở đâu đó, trước Tháng Tư, 1975, một câu của nhạc sĩ Phạm Duy, in trang trọng nơi trang đầu một tuyển tập nhạc tình của ông. Ðại ý ông tỏ dấu tiếc đã không dành hết quãng đời viết nhạc của mình, cho sự ngợi ca tình yêu. Tôi thú vị lắm, phải nói thế, khi đọc lời tâm sự buồn bã nhưng rất thực của người viết nhạc lớp trước. Tình yêu, cách nào khác, tôi nghĩ, chính là khuôn mặt chập lại, sáng lên cùng lúc: Sự sống và lẽ chết.(Du Tử Lê, Từ Công Phụng, Hạnh phúc tựa những lời nói dối)[v]

Đó là trích đoạn một bài viết của Du Tử Lê viết về nhạc Từ Công Phụng. Bài viết là tiểu luận, nhưng hơi hướm tùy bút và thơ. Du Tử Lê ở đây không đưa một chi tiết cụ thể nào, mà lan man đi từ hình ảnh ẩn dụ này đến ẩn dụ khác. Mưa thì “ẩm đục”, lệ thì “mặn” và “đầm đìa”, quá khứ thì “chát đắng” Ông đổi cách sử dụng chữ: biến hình dung từ thành danh từ, đảo ngữ, đảo cú. Câu tuy ngắn, nhưng nhịp chữ đều đặn, cân đối khiến hơi chữ chừng như kéo dài, nghe lướt thướt.

Đoạn sau đây lại càng du-tử-lê hơn:

Trong lúc chờ T.Q.C. chúng tôi cùng hút thuốc. Tôi nói với X.T. về niềm hạnh phúc, mỗi ngày được sống, thêm. Thấy cây, cỏ, hớn hở. Thấy nắng, gió, khoan thai. Thấy thiên nhiên, căng bầu vú, cho vạn vật bú, mớn. Thấy bằng hữu mất, còn, cũ, mới, vẫn lênh đênh xao xuyến tìm nhau. [vi]

Ông cắt câu, tách chữ, tạo thêm nhiều nhịp chỏi bất ngờ. Hơi chữ bỗng nghe lạ lẫm hẳn. Thấm thía hơn, có lẽ.

5.

Sự lập lại chữ, nhiều lần cùng một chữ ( “những”, “thấy”) của Du Tử Lê, gợi cho tôi văn phong của một nhà văn khác, Mai Thảo:

Tôi muốn bảo Luân, tôi muốn bảo Luân: Anh xót thương em những đêm dài trong núi, dưới mái nhà sàn cơ quan, trên những con đường hầm hố vết thương, những xóm làng hủy phá, trên những thềm nhà cỏ hoang phủ kín, trên những vì tường đổ gục, trên những thân cây chặt đứt, qua những chân cầu đổ nghiêng, trong hầm trú ẩn máy bay. Tôi muốn bảo Luân, anh xót thương em đêm giã từ Hà-nội ra đi nhìn về Hà-hội cái rừng lửa cháy, buổi chiều đứng trên con đê Hồng Hà, buổi trưa về thăm lại Hưng Yên, buổi ra đi bãi ấy còn xanh biếc ngô non, buổi về chỉ thấy mênh mông phù sa kín nhòa bãi cũ. Tôi muốn bảo Luân, anh xót thương em trên những đầu ngón chân anh đi, cái hình ảnh xót thương lăn theo sỏi đá dọc đường, nằm trên từng cột cây số từng nền lũy tre xanh, chảy theo mặt nước lúc xuống đò qua sông, khuân theo lòng đường lúc xuống đò lên bộ, từng buổi sớm xuống suối rửa mặt, cái hình ảnh xót thương trong veo trên nền sỏi trắng, từng buổi chiều không biết đi đâu, cái hình ảnh xót thương bát ngát đầy chiều.

Tôi muốn bảo Luân, anh nhớ đến em trong tiếng súng ban đêm, những vệt lửa dài cháy vào bóng tối, lúc bỏ núi sau lưng cái hình ảnh xót thương còn mang hình trái núi, lúc xuống đồng bằng trước mặt cái hình ảnh xót thương đã mang hình những ngọn lửa dài, lúc anh muốn chết, lúc anh muốn sống, lúc tuyệt vọng tối đen vực thẳm, khi tin yêu sáng chói mặt trời, lúc nhìn xa cái hình ảnh lớn theo ngút mắt, lúc tưởng gần cái hình ảnh thu cũng nhỏ vào một góc trái tim như một tấm hình kỷ niệm. (Mai Thảo, Luân)[vii]

Chữ níu chữ, câu kéo câu, xô đẩy, chồng chất, đuổi rượt nhau. Xen giữa là “những”, “cái”, “khi”, “lúc”, “từng”…

Văn phong của Du Tử Lê và Mai Thảo có nét chung là cầu kỳ, trau chuốt. Cái khác nhau là trong lúc Du Tử Lê tiết chế, chọn lọc thì Mai Thảo phóng túng. Những con chữ óng chuốt, mượt mà được Mai Thảo thả rong trên trang giấy. Chúng uốn, lượn, vươn lên, quành xuống như một vũ điệu. Vũ điệu chữ. Đọc Mai Thảo, tôi tưởng như chữ đẩy mình trôi, trôi mãi trôi hoài, không biết sẽ đến đâu. Đôi lúc tưởng như từng hơi từng hơi phả vào mặt, choáng váng!

6.

Con đường dốc dài đầy cát và cỏ nom như một dòng sông cạn. Bên kia đường trên một mái công sở có bức tường cao, một chùm hoa còi hụ nhận tầm ánh sáng cuối cùng của mấy cột đèn rải rác hắt lên. Cao hơn là bầu trời tối với cảm giác gió trên đó thật hung dữ. Mường toan rủ Ngữ về làng ăn cưới đứa em nhưng lại thôi. Những khó chịu, nếu có, nên giữ lấy riêng mình. Ngữ dừng lại trước một tiệm tối đen gõ cửa hỏi có còn nem nướng. Không có tiếng trả lời, hai người rẻ vào một hẻm tối, ra lộ. Đường phố vắng. Rạp chớp bóng duy nhất của thị xã đã vãn. Từ đầu đại lộ, người đi coi về đi xuống từng đám hầu hết là lính và vợ con. Khu phố có những quán ăn cho lính ngoại quốc còn ồn. Hai người vào một cái quán quen đã hạ cửa nửa chừng che gió. Bọn Nại, Hồng, Ngạc, Kỉnh…đã ngồi ở đó như mọi khi. Nại ra dấu kêu Mường lại cùng ngồi. Ngữ kêu hai tô cháo lòng và cà phê sữa. Mọi người cười nói ồn ào. Một bản twist mở muộn dành cho đám trẻ nhỏ khom gối, lắc mông trên những đống giấy vụn lau bát đũa. Người đàn ông tản cư cuồng trí quen cả thành phố trong tấm mền rách ngoài hiên thỉnh thoảng lại cất giọng ngâm mấy câu thơ nghe đã nhàm tai. Tối nay, Nại có vẻ ít nói. Hắn ngồi nhìn các bạn và cười góp. Tấm áo len cũ trùng, cổ rộng tới ngực nom lụng thụng. Đôi mắt dài của hắn lẩn khuất” (Y Uyên/Gió cuối năm)[viii]

Văn của Y Uyên đơn giản, yên tĩnh, chậm rãi, từ tốn. Nó như một cái máy quay phim của một người đi tìm tài liệu. Không có chi tiết nào hơn chi tiết nào. Nó ghi nhận mọi thứ, không cuống cuồng vội vã, không ép uổng, chọn lọc. Cứ thế. Truyện của Y Uyên viết về những vùng đất sôi bỏng chiến tranh. Bản thân anh là một người cầm súng ngoài chiến trường (trước 1975). Nhưng ta ít khi thấy bóng dáng của chiến tranh. Chỉ thấy những nét phác thảo đơn giản, hiện thực về cuộc sống của những con người bình thường, rất đỗi bình thường đang bám lấy đất mà sống, mà tồn tại.

Những cây phượng cao hơn tầm tay trụi hết lá, cành cong đầy mắt, trông những cái đuôi khô nhô đốt xương. Bụi tre xác xơ vàng óng cuối dãy trường vật vờ phần ngọn loáng thoáng ánh nắng.Thằng học trò trưởng lớp vẫn co ro trước cửa văn phòng hiệu trưởng đợi Ngưỡng. Đầu nó chùm hụp một cái mũ nhà binh đã cũ. Ngưỡng không hiểu nó thiếu khôn ngoan hơn mình hay bạo dạn hơn. Ngưỡng không bao giờ vứt một cái vỏ quân tiếp vụ ở trường như trước kia vẫn vứt những vỏ ruby. Chắc thằng bé lại muốn xin thôi học. Buổi nào Ngưỡng cũng vỗ về chúng như một thông lệ cầu nguyện “các em cứ gắng đi học, cuối năm thầy cho đậu hết” nhưng sổ điểm danh ngày nào cũng chạy dọc một cột dấu chữ thập. Có đứa vừa ra khỏi lớp học vừa mếu máo, lẩn quẩn bên cửa sổ nhìn vào cả buổi, có đứa Ngưỡng nghe tin bị bắt lên núi cả tháng trời mới thấy người nhà đến xin lại hồ sơ, có đứa nghỉ hôm trước, hôm sau gửi cho thầy một lá thư đầy lỗi chính tả hẹn ngày “giải phóng” cho thầy. (Y Uyên/Những ngày cuối năm trên miền núi)[ix]

Y Uyên là một nghịch đảo của Mai Thảo. Đọc Mai Thảo ta cảm thấy các trạng thái tình cảm dồn dập, nối tiếp nhau. Đọc Y Uyên, nghe văn có chút gì nhàn nhạt, đơn điệu, tạo nên hiệu ứng về một thế giới hiu hắt, trống vắng. Mai Thảo nhô người ra phía trước, thay sự vật nói, nói hết, nói đến cạn lời. Y Uyên thì đứng khuất đằng sau, từ tốn ghi nhận. Hơi chữ anh không rạo rực, bức xúc, không nôn nao, uất nghẹn. Ngược lại, điềm tĩnh như chính những sự vật nằm đó. Không lý giải. Giống như người ta đem hết đồ đạc ra ngoài, bày biện ra đó và để tự chúng … bày tỏ chính mình.

7.

Tôi đã chờ nó đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạm gọi vậy) một trời sao. Chờ chơi vậy, chứ tôi biết Điền chẳng quay về. Tôi nhớ nó (và nhớ chị) không thôi. Những lần dọn cơm tôi hay lấy chén đũa cho cả bốn người. Cha tôi rất khó chịu, ông ngán ngẩm đứng dậy. Tôi ngồi một mình, chan nước vào chén cơm như chan nỗi trống trải khủng khiếp. Đi qua những xóm kinh chộn rộn ánh đèn, tôi thường ngóng lên bờ mong có thể gặp được thằng Điền và chị. Không biết em tôi có đuổi kịp chị, hay vẫn tiếp tục kiếm tìm. Không biết nó đã đánh thức được bản năng, đã tìm thấy nhục cảm, đã biết thèm muốn chưa. Không biết tối nay thằng Điền có được mệt nhoài úp lên chị, hay vạ vật ở đâu đó, bên vách buồng (hay một tấm ghi-đô bằng vải), đau vật đau vã nghe hoan lạc chảy thành những dòng rên xiết, kêu thét. Không biết nước mắt của nó đã khô chưa hay vẫn rỉ từng giọt như máu tươi.

Tôi nhớ Điền, bao gồm nhớ một đồng – loại (và tôi là đồng – loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ một người nghe được tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm được, nhưng nó đã chết rồi), và nhớ một người che chở (công việc này, đáng lẽ là của cha, má tôi). Tôi biết ơn Điền, từ một gói băng trắng mà Điền mang về hôm tôi mười bốn tuổi, bảo thứ này dùng khi có kinh nguyệt, nó sẽ ngăn không vấy máu ra quần. Điền đi hỏi ai đó, nó nói, máu không cầm được cho đến khi nào tự nó ngưng chảy. Điền xót xa khi thấy tôi trổ mã con gái, “Đẹp làm chi dữ vậy, Hai ? Ở cái xó quê này, có đẹp mai mốt cũng phải lấy chồng, đẻ một bầy con nheo nhóc, cũng ra ruộng ra vườn làm lụng đến hết đời, xẹp lép như xác ve. Đẹp, mắc công giữ…”. Điền dặn tôi đừng xoắn quần quá cao, đừng mặc áo quá rộng cổ… Với bọn đám thanh niên lúc nào cũng kiếm cớ lãng vảng, Điền giang tay bọc lấy tôi, nó giễu cợt, “Anh kia, lượm con mắt lên, anh nhìn vậy, chị tôi mòn còn gì”. Đám người cụt ngòi, tẻn tò dạt ra. Ngay cả khi Điền bỏ đi cùng chị, nó cũng để lại cho tôi một món quà lớn. (Nguyễn Ngọc Tư/Cánh đồng bất tận)[x]

Cánh đồng bất tận, một bất ngờ của văn học Việt Nam thời gian gần đây, viết về cuộc sống long đong bất tận của những người không đất đứng. Nhân vật nào cũng bị đẩy đến tận cùng của sự chịu đựng. Mà vẫn tiếp tục chịu đựng. Vẫn bám chặt vào bất hạnh, đôi khi như một cái phao, để tồn tại. Những con chữ của Nguyễn Ngọc Tư đơn giản, bình dị, chơn chất, đầy tính cách sông nước miền Nam. Câu, chữ viết ra tưởng như không cần một cố gắng nào. Những diễn tả về cái nghèo, cái thiếu, cái khổ, cái thèm, cái buồn, kể cả các quan hệ thân xác kiểu này kiểu nọ (rải rác trong truyện)…đều có tính cách tự nhiên như nhiên, không bí hiểm, không lên gân, không chải chuốt, không bi thảm hóa. Bằng một nhịp văn chậm rãi, từ tốn, những con chữ Nguyễn Ngọc Tư bóc dần từng lớp, từng lớp mỏng hiện thực, để đi đến tận cùng mỗi số phận, mỗi cá tính, mỗi đớn đau, mỗi khao khát. Đọc đoạn nào cũng nghe hơi chữ xao xác, ngậm ngùi.

Nhiều lúc tôi hơi nhớ con – người. Họ ở trong cái xóm nhỏ kia, chỉ cách chỗ chúng tôi dựng trại vài ba công đất. Họ lúc nhúc trên thị trấn kia, nơi chúng tôi vẫn thường ghé lại mua gạo, cám, mắm muối… dự trữ cho những chuyến chạy đồng xa. Và họ ở gần ngay đây, họ vừa gặt lúa vừa nói chuyện tục tĩu rồi cười vang bên bầy vịt đang rúc rích tìm thức ăn, nhưng tôi vẫn nhớ…

Có lẽ vì cuộc sống của họ ngày càng xa lạ, với chúng tôi. Họ có nhà để về, chúng tôi thì không. Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không. Họ ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tôi thì không. Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao.

(…) Cũng theo lối này, vài hôm sau, ông trưởng ấp dẫn theo một cán bộ xã xồng xộc đến chỗ chúng tôi.

Tôi vừa sợ, vừa biết ơn những người như thế này. Họ làm cho chúng tôi cảm thấy bớt hoang dã, làm chúng tôi hiểu rằng, ngay cả trên những cánh đồng hoang liêu nhất thì chúng tôi vẫn bị ràng buộc bằng hàng vạn luật lệ. Nhưng đồng thời họ luôn mang tai họa đến.

8.

Một bên tôi là Đức Giáo Chủ và bên kia là bóng ma của Mary. Chúng tôi ba người mà chỉ có hai chiếc bóng. Bóng hai chúng tôi đôi lúc nhập vào nhau lúc giữa trưa, khó tách biệt như lời thề và bội phản. Nhưng sự phản bội không đến đột ngột như tôi sợ. Nó đến từ từ, mỗi ngày nó tiến lại gần hơn. Sự phản bội biết cách ngụy trang, nó đến như một chiếc hôn bí nhiệm yêu dấu nhất.

Chúng tôi ngồi nghỉ chân trên tảng đá phẳng nằm khuất dưới những vòm cây góc vườn. Nơi đây Giêsu đã khóc và cầu nguyện trong cơn thống khổ. Chúng tôi gọi nó là tảng đá hấp hối. Ánh nắng trưa Gethsemane nhuộm màu xanh lợt của lá ô-liu, màu đen dịu của chùm trái chín, hòa thành một màu vàng ngọt óng của mật ong. Ánh sáng thiên thần đổ xuống mái tóc bạch kim của Giáo Chủ lấp lánh như tơ, rủ xuống vầng trán khắc khoải của Ngài. Bằng một giọng cực kỳ trìu mến, ngài âu yếm gọi tên tôi rồi khẽ bảo:
“Lại đây nào.”

Hơi thở ngài gấp rút.
Tôi đến gần, quỳ xuống, úp mặt vào vạt áo ngài. Một hồi lâu, úp mặt xuống nhưng tôi vẫn thấy màu nắng sáng lóa đàng sau, ánh nắng ràn rụa khắp thế gian và chảy khắp người tôi nóng ran. Tôi biết đây là lần cuối. Một cơn gió mát thoảng qua, rất nhẹ mà làm lay chuyển những cây cổ thụ ngàn năm. Những thân cây đã từng chứng kiến cảnh tượng rợn người, bây giờ chúng lên cơn giận dữ, nhấc khỏi mặt đất, đòi tự trốc gốc rễ mình. Mồ hôi tôi chảy đầm đìa lớp áo chùng. Tôi chăm chỉ hơn và tận tình hơn bao giờ, tôi hiểu ý ngài, và phục vụ ngài với tất cả nỗi tận tụy của một tên nô lệ. Ngài cũng đang yếu đuối. Bàn tay ngài uể oải lùa nhẹ vào tóc tôi, mơn man da đầu tôi. Giây phút này chúng tôi sẽ nhớ mãi, dù không ghi vào sách, cũng không ghi vào đời. Nó chỉ tồn tại giữa hai chúng tôi. Nó là gạch nối. Nó như lời thề. Những cơn co giật của Giáo Chủ cũng dữ dội như những cây cổ thụ ngoài sân. Người tôi cũng nóng hực run rẩy. Tôi nhớ Mary, nhớ những lần chúng tôi vụng trộm, tôi khao khát nàng với nỗi khát ngang hàng sự chết. Giáo chủ lần tay vào áo tôi, ngài rà soát thân thể tôi, nhưng điều ngài tìm kiếm không còn thuộc về tôi nữa. Nó đã bị âm hộ Mary giam giữ. Bàn tay Giáo chủ đè nặng, uy quyền ngài bấu nghiến bả vai tôi. Tôi cứng người, cảm nhận lưỡi kiếm mỏng tang, hơi lạnh sắc mỏng tang, sự vô hình mỏng tang đang lướt dọc theo gáy. Ngài chỉ cần buông tay…
(Đặng Thơ Thơ/ Đi tìm bản thánh kinh cui)[xi]

Đi tìm bản thánh kinh cuối được viết bằng một kỹ thuật khá mới mẻ, vừa về cấu trúc, lẫn ý nghĩa và cách sử dụng con chữ. Tôi gọi là một “tân truyện”. Chất liệu không dựa trên một hiện thực nào. Tất cả khung cảnh nhuốm mùi hồng hoang, thần thoại. Vận dụng tính đa dạng của con chữ, Đặng Thơ Thơ đã tạo dựng nên một thế giới lai: khái niệm tan vào thơ, ám ảnh trộn cùng suy tưởng. Đặng Thơ Thơ ẩn dụ hóa mọi thứ: tôn giáo, hiện thực, lịch sử, người, vật, dục tính. Cái tưởng là thực, không thực đã đành; cái tưởng là hư, cũng chẳng là hư. “Bóng hai chúng tôi nhập vào nhau… như lời thề và bội phản”, “Những thân cây …nhấc khỏi mặt đất, đòi tự trốc gốc rễ mình”; “hơi lạnh sắc mỏng tang, sự vô hình mỏng tang”. Đọc mà như lênh đênh bơi trên bờ ảo. Ảo của vật, ảo của ý. Ảo của ảo. Tất cả đều loáng thoáng, mơ hồ, chợt có chợt không. Gợi nên cái mỏng tang của không gian, của thời gian, và của cả…chân lý!

Cũng có khi tôi đi tất cả mọi nơi cùng lúc và sống mọi cách sống cùng lúc trong cái đầu hỗn loạn của tôi. Nhiều người cũng làm như vậy và thế giới trở nên chằng chịt những con đường cho đến khi những con đường tràn vào nhau và biến trái đất thành nhẵn thín như không có đường (như khi chúng ta dùng bút chì tô đậm một hình tròn). Tôi đi lang thang trên các nẻo đường, chờ đón thanh gươm vô hình của Giáo chủ đang bay đi tìm tôi. Thanh gươm ấy ở khắp nơi. Nó có mắt. Nó đã làm thế gian này điên đảo. Nhưng khi nó tìm thấy tôi, nó sẽ dừng lại, nó sẽ ghim vào đầu tôi và ở đó mãi mãi. Tôi sẽ sống để mà chờ nó.

Giáo chủ là g/i/á/o/c/h/ủ. Thanh gươm là t/h/a/n/h/g/ư/ơ/m. Vân vân. Còn “t/ô/i”? Là ai?

Hơi chữ nghe có vẻ chắc. Nhưng xem ra đầy nghi hoặc!

9.

Nhà cô Thiền Pha nằm trên một con đường phố trung tâm Hồ Chí Minh City. Tôi nhấn mạnh HCM city. Mới lắm chuyện huyền ảo.

(…) Đêm nay trời đẹp. Trăng sáng rỡ. Thiền Pha ngồi trên lầu nhìn xuống quãng phố rộng. Phía cuối đường một tòa cao ốc đèn từng ô nổi trôi trong khoảng trăng mông mênh. Cô mơ mộng.

Trong mơ, một cơn lốc xoáy, thành tiếng gầm rú. Một tiếng ầm khô khốc ngay dưới đường. Rồi một thân cây bốc lên cao. Thân cây đập xuống mặt đường quay lông lốc.

Mùi xăng từ thùng xăng bị vỡ làm cô tỉnh lại. Đúng là cảnh sát, người bao quanh, xe cộ đông vầy.

Một chiếc xe gắn máy gãy làm đôi. Hai xác người đẫm máu văng ra hai nơi rất xa nhau. Cây trụ điện gãy bể một mảng. Người ta không thể không rùng mình vì sao hai cậu trai trẻ mà máu nhiều trên mặt đường đến vậy.

Rất khuya, trời đổ cơn mưa lớn. Lớn nhất từ đầu mùa. Thiền Pha không sao ngủ được. Cô cứ thấy cái đầu máu me dập sọ não lẫn lộn trong chăn. Sờ đâu cô tuồng như chạm phải thịt vụn bầy nhầy.

Gần về sáng, nhìn từ ban công, đại lộ sau cơn mưa cuồng, đã biến ra một con sông ngập vàng ánh trăng.

Có một hồi trống và tiếng kinh mõ vẳng lại từ ngôi chùa Phật gần nhà.

Con sông trăng về sáng vắng lặng. Sông không trôi. Như mặt hồ chỗ thiên thai. Phía xa kia có một người dắt và một người đẩy một chiếc xe hai bánh chết máy, lội qua. Một chiếc thuyền lạ lẫm. Trong một thành phố tưởng như thân quen. Một thành phố sạch trơn. Như ai nấy chết trọi rồi.

Bọn chúng, là bọn trụ điện lẻ loi, bọn thừa ra, bọn lỗi thời vẫn đứng giữa dòng chảy. Cái bóng nó nghiêng. Nó gầy lắm.

Thiền Pha buồn nghĩ:

“Làm sao hai chàng trai trẻ có thể treo linh hồn mình nơi môt thân cây không lá chẳng cành như vậy nhỉ”

(Cung Tích Biền/Chỗ treo linh hồn)[xii]

Truyện của Cung Tích Biền mang dấu ấn nặng nề của hiện thực. Đọc ông, ta tìm thấy ngay những mảnh cuộc sống đâu đó, rất gần gũi, rất chân xác, ai cũng có thể tự mình nhận ra. Có điều, hiện thực đó thường được che chắn bởi một lớp sương mỏng, khiến nó bỗng trở nên lung linh, hư ảo. Truyện của ông đứng dạng chân giữa hai bờ hư/thực. Ông điều động con chữ nhuần nhuyễn và thông minh. Rất dụng công mà lại tưởng chừng như không hề sử dụng nội lực. Khéo biến chúng thành những hình ảnh chờn vờn, lập lờ, đa nghĩa. Thoắt bên này, thoắt bên kia. Tưởng như đang nghe chuyện thực, bỗng hơi văn đột ngột lung linh, chập chờn đưa ta vào cơn mơ. Có lúc, tưởng đang mơ, thì những con chữ nhảy chồm ra ngoài đụng vào người, va vào vật, trở nên hiện thực một cách bất ngờ.

Có lẽ cũng nên đọc thêm một đoạn văn khác của Cung Tích Biền:

Đêm hôm ấy, Lùng không ngủ được, trăng mười sáu sáng lòa trời đất, mây sao bàng bạc, bao nhiêu kỷ niệm cha con họ hàng tưởng như chai lỳ nay vỡ ra lênh láng. Nỗi thương cảm vô hình rực rỡ như đám lân tinh xa vắng nơi rừng tre trúc. Thế là cha tôi đã qua đời, người đã vào cõi vĩnh hằng, đã thực sự bất tử. Lùng thức với một nỗi niềm riêng, chân bước chậm rãi trên khoảng sân nhỏ trước nhà, sau tới ngồi trên chiếc ghế xích đu, mắt nhìn lung ra phố khuya, tâm cảm trôi giạt giữa một vùng màu sắc kỳ bí khó giải thích. Anh nghe đâu đó hình hài thoáng hiện, bước chân ai đó động hờ rồi tan biến, nụ cười vỡ vụn không âm sắc, rồi một tia sáng rỡ của sao băng ngắn ngủi trong bầu trời lụa bạch. Một vở kịch đã biết nửa chừng hồi kết thúc, một đau thương được chờ đợi từ lâu, một cái gì trờ tới như điều hiển nhiên, hiếm hoi và muộn màng, thế nhưng Lùng vẫn man man niềm đau nhức. Cha tôi – con người cường tráng hiền hòa, lòng dạ một nông dân đậm chất người, một cây sồi tiêu biểu cho những cây sồi cổ tích nhất – cái tưởng như thiên thu ấy nay không còn. Nói khác đi, ông phải chết để hòa mình với thiên thu.(Cung Tích Biền/Dị mộng)[xiii]

Chữ, trong Cung Tích Biền, phải chăng là hồn ma bóng quế giữa cuộc đời vô cùng nghịch đảo?

10.

Tôi đã đi như thế trong bao nhiêu buổi sáng của đời mình, không biết bao nhiêu lần, không nhớ rõ rệt những chỗ mình đã đi, ở thành phố nào xa lắc xa lơ. Trong mấy chục năm làm người đã bao lần rời đổi, mỗi nơi một cảnh vật, những dòng sông, những dẫy núi, những ngôi nhà, những hàng rào, những hàng cây cao, những bụi hoa thấp, tất cả khác nhau và chắc chắn đời sống khác nhau. Nhưng hình như cái cảm giác đi trong buổi sáng tinh mơ lại rất giống nhau. Có một cái gì tinh khôi, trong trẻo, lạ lẫm và quyến rũ của đầu ngày. Như khuôn mặt vừa thức dậy, còn lơ mơ giữa tỉnh thức, môi chưa chạm son, tóc chưa chạm lược, như một khúc lụa chưa cắt thành áo, cứ giũ tung ra rồi lại cuộn vào, như một mối tình chưa đi đến hôn nhân, cứ ửng đỏ dần dần.

(…) Những hàng cây hai bên không còn là những mảng mầu tối của một bức tranh, chúng bắt đầu khoe những đường gân lá, như một thanh niên mới lớn nhìn xuống cánh tay mình. Những bụi hoa nhỏ như những đứa bé vừa ngủ dậy, chúng mở từng cánh, như những con mắt trẻ thơ sau một giấc ngủ ngon. Những cánh cửa cũng lần lượt theo nhau mở ra. Trẻ con, người lớn mỗi người đem một mảnh đời ra khỏi ngôi nhà thả vào con đường trước mặt. Bao nhiêu hy vọng trải đưới ánh mặt trời, tiếng cười, tiếng khóc cùng theo nhau vỡ òa. Trái tim chưa biết yêu, đẩy cánh cửa bước ra, đi tìm tình yêu trong vũng ánh sáng đầu ngày lấp lánh. Ngày bắt đầu rất nồng nàn như cô thiếu nữ vội tô son, chải tóc, mang khúc lụa thời gian ra may cắt, sợ buổi chiều sẽ ập đến xóa mất tuổi xuân. (Trần Mộng Tú/Tinh sương)[xiv]

Văn của Trần Mộng Tú phất phơ, nhẹ nhàng – kể cả khi chi nói về nỗi đau, về bất hạnh, về tuyệt vọng. Những con chữ của chị bao giờ cũng mềm mại, uyển chuyển và mở, dẫn đến những hình ảnh hồn nhiên, linh hoạt của cuộc sống. Chị có những ví von tinh tế, đậm nét hồn nhiên, tươi tắn, đôi khi đượm chút trẻ thơ. Những ‘bụi hoa nhỏ” buổi sáng được ví với những “đôi mắt trẻ thơ” mở ra sau giấc ngủ ngon; người ta mở cửa đi ra ngoài được hình dung là đem “mảnh đời “ mình “thả vào” con đường trước mặt. Đọc chị, thấy chữ có khi nhảy nhót, reo vui, nghịch ngợm. Có khi mang mang thế sự. Có khi sâu lắng. Nhưng hơi văn luôn đầm ấm, thân tình, tràn trề tình yêu và tình người. Nhiều trang chữ của chị nghe trong, thơm, và ngọt. Có khi ngọt lịm!

Erik nằm thở từng hơi rất nhẹ, rất nhẹ! Âm thanh êm ái đó dắt anh vào vườn hoa, những câu hát thân quen này Tuệ Quân vẫn hay hát cho anh nghe trong những khi hai người ngồi dưới ánh trăng, tiếng hát khe khẽ của Tuệ Quân thường làm rung cả ánh trăng đang chẩy trên mặt trên vai hai người. Erik nuốt vào thanh quản của mình những câu hát như những cánh hoa trăng đó, anh thả nó trôi bồng bềnh trong lồng ngực của mình, lồng ngực sũng nước của anh như một chiếc hồ nhỏ đang nhận từng cánh hoa trăng nhẹ nhàng rắc xuống. (Trần Mộng Tú/Tuệ Quân)[xv]

11.

Cuối cùng, xin đọc vài đoạn trong một bài thơ:

Mồng bốn Tết năm 2002 tôi trở lại Đà lạt
sau 15 năm. Tôi không thấy Đà lạt nữa
tôi thấy một con bửa củi lật ngửa những cái chân
thông xơ xác chĩa lên trời ngọ nguậy.
Tôi quầy quả lên đồi Cù nhưng nó đã thành một cái vú
cho thương gia Đài Loan trèo lên bóp mỗi ngày.
(…) Đà lạt bây giờ phát phì kiểu một người ăn tạp
Các con đường giãn giây thun, nhà xây
theo bản nháp. Xe gắn máy ăn cắp yên tĩnh ban mai
ngày đầy bọn đàn ông thô bạo đến từ xứ sở
đói nghèo trấn lột than thể xốp thiếu nữ,
trấn lột ngôn ngữ dịu dàng, trấn lột đất.
Thế giới đầy những con tốt bị xua qua sông bởi khẩu hiệu và súng.

Tôi uống nước đóng chai tôi trú trong khách sạn tên
Global Trek kề dinh Bảo Đại. Qua cửa sổ mờ sương tôi thấy người
đàn bà gánh hai chiếc thúng.
Tôi không biết bà gánh gì nhưng
tôi biết sức nặng cuộc đời không ra khỏi được thung lũng.

(Phan Nhiên Hạo/Đà Lạt: 1989-2002)[xvi]

Đây là một bài thơ xuôi với một cấu trúc chữ hoàn toàn mới. Không có vần đã đành, mà cách sử dụng chữ cũng khác lạ. Những con chữ chắc, khỏe, cụ thể, trực tiếp. Nhiều nhịp chỏi. Cách mô tả sự vật cực kỳ hình tượng. Hiện thực là ẩn dụ. Mà ẩn dụ cũng chính là hiện thực. Bài thơ cho ta hình ảnh của một Đà Lạt mới đầy “bể dâu”, một Đà Lạt đã bị vặt hết lông hết cánh, chỉ còn trơ ra một thành phố trần truồng, vô hồn và tuyệt vọng. Vẫn là Đà Lạt nhưng không là Đà Lạt. Hơi thơ nặng nề, bức bối. Và bỗng trầm xuống bất ngờ ở cuối:

Tôi không biết bà gánh gì nhưng/Tôi biết sức nặng cuộc đời không ra khỏi thung lũng.

!!! :-(

Nghe cay cay như khói chữ xông tràn vào mắt.

Đã tạm dài. Đành ngưng nơi đây. Thế giới văn chương mênh mông, người viết tiếc là không thể đưa thêm nhiều trích đoạn nữa!

Cũng là những con chữ đó – những ký hiệu vô tội vạ – ai cũng có thể viết, có thể sắp xuôi, sắp ngược theo ý mình (miễn làm sao cho chúng có nghĩa), ấy thế mà, mỗi cách hành văn lại có một lối sắp xếp khác nhau, đưa đến những cấu trúc khác nhau và toát ra hơi chữ khác nhau. Nhiều cách sắp xếp mới mẻ, bất ngờ khiến cho khi đọc tưởng mình lạc vào một vùng đất nguyên sinh. Và bỗng nhiên chạm đến một cái gì tinh khôi, tươi mới y như chưa từng biết đến bao giờ.

Văn chương, lạ thật!

Trần Doãn Nho

(10/2009)

Ghi chú:

Bài viết này đã được đưa lên trang mạng của đài VOA, blog Nguyễn Xuân Hoàng và bằng hữu:

. Khi đưa lại lên Da Màu, tác giả có thêm một số trích đoạn và nhuận sắc đôi chỗ.


[i] Thanh Tịnh, http://www.saigonline.com/truc_huy/tdh_tt.htm

[ii] Nguyễn Huy Thiệp, http://www.dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=HZ4ewCpL2B4VukPqgOwrAQ%3d%3d

[iii] Phạm Thị Hoài, http://www.dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=vYpB9ISp72U8XkU7ha0hlQ%3d%3d

[iv] Đề tài “tẩm quất” cũng có một tác giả khác sử dụng: Trần Mộng Tú, Phất phơ bay, Da Màu

http://damau.org/archives/1948

[v] Du Tử Lê, http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=102369&z=193

[vi] Du Tử Lê, http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103336&z=97

[vii] Mai Thảo, Luân, tạp chí Hợp Lưu (California) số 100, tháng 5 & 6/2008

[viii] Y Uyên, Tuyển truyện thời chiến, nxb Thư Ấn Quán, New Jersey, Hoa Kỳ

[ix] Y Uyên, sđd như trên

[x] Nguyễn Ngọc Tư, http://www.viet-studies.info/NNTu/NNTu_CanhDongBatTan.htm

[xi] Đặng Thơ Thơ, http://damau.org/archives/1948

[xii] Cung Tích Biền, http://damau.org/archives/376

[xiii] Cung Tích Biền, http://krfilm.net/f/viewthread.php?tid=20002

[xiv] Trần Mộng Tú, http://www.voanews.com/vietnamese/2009-10-21-voa30.cfm

[xv] Trần Mộng Tú, Tuệ Quân, Vườn Măng Cụt, tập truyện, nxb Văn Mới, California, 2009

[xvi] Phan Nhiên Hạo, “Chế tạo thơ ca 99-04”, tập thơ, nxb Văn, San Jose, Hoa Kỳ 2004.

bài đã đăng của Trần Doãn Nho


11 bình luận »

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính gửi Tác giả Trần Doãn Nho,

    Rất thú vị khi được đọc bài viết này của Anh trong lúc tôi đang rất “dị ứng” với 1 số bài thơ “hậu hại điện” sau này. Có lẽ do tôi không có đủ trình độ để thưởng thức loại thơ đó chăng. Nay được biết Tác giả Trần Doãn Nho (rất có uy tín với tôi) “đích thân” viết bài này và cũng là “cố nhân” với tôi (hiii….hiii, trong 2 tuần rượu bàn luận thời sự năm xưa, không biết tôi có được hân hạnh được Tác giả còn nhớ không ? Hy vọng đó là diễm phúc của 1 độc giả bình thường như tôi). Chân thành cám ơn Anh về bài viết này !

    Xin được thảo luận với Anh Trần Doãn Nho về Thơ nhé !

    Trong một bài viết của Ông Phan Ngọc trên Tạp chí văn nghệ 1994, có đoạn viết :
    “….Cảm xúc do thơ gây nên không phải là cảm xúc do văn xuôi gây nên. Ðây là một điều rất căn bản mà tiếc thay lý luận văn học đã bỏ qua. Tiểu thuyết miêu tả tình yêu trên thế giới không phải là hiếm. Thế nhưng, khi bạn tìm những cách cụ thể để nói lên tình yêu của mình, thì chắc chắn bạn sẽ nhớ những câu của Virgile, Lamartine, Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Xuân Diệu… và của những nhà thơ có thể rất tầm thường bên cạnh những ngọn núi đồ sộ như Stendlhal, Tolstoi… Nhưng các nhà văn xuôi kia dù có vĩ đại đến đâu cũng không tài nào cấp cho bạn tiếng nói bằng lời cụ thể tình yêu của bạn. Cũng vậy, không thiếu gì những đoạn văn xuôi rất hay miêu tả vầng trăng, kiếp sống con người… nhưng cả Ðông Á nhìn vầng trăng với đôi mắt Lý Bạch, suy nghĩ về kiếp sống với cái nhìn Ðỗ Phủ. Cuộc đời không cho phép tôi có một học vấn, một kiến thức phong phú dành cho một triết gia, mặc dầu tôi có ý thức học triết học nghiêm túc. Nhưng tôi đã dành cả cuộc đời để tìm hiểu chính mình, cũng công phu không kém một triết gia. Khi lý giải hiện tượng này, tôi thấy sự khác nhau là ở chỗ: câu thơ đọc xong thì đọng lại nguyên vẹn trong trí óc ta, trở thành một ám ảnh, và được nội cảm hoá ngay lập tức đến mức nó là của chính tôi. Ðây là một sự chiếm hữu trọn vẹn cả nội dung lẫn hình thức không một chút vi phạm dù là nhỏ nhất. Ðọc văn xuôi, sự chiếm hữu của tôi chỉ trọn vẹn ngay khi đọc, rồi sau đó tôi chỉ nhớ mang máng nội dung, còn hình thức thì quên. Khi hình thức đã quên, cách nào cảm xúc nội cảm hoá được? Kết quả việc thưởng thức Truyện Kiều rất khác cách thưởng thức Anna Karênina chẳng hạn. Tôi thuộc Truyện Kiều từ đầu chí cuối, cho nên cũng có một sự chuyển hoá, tôi là Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, thậm chí là Thúc Sinh, Mã Giám Sinh lúc nào tôi cũng không biết nữa. Năm 764, Ðỗ Phủ viết những câu thơ mà tôi tạm dịch:
    Việc lo đã có quan cao
    Cớ gì nước mắt ào ào tuôn rơi?
    Tôi là người nghiện thơ Ðỗ Phủ. Bây giờ, sau 1226 năm, có lúc chính tôi muốn nói như vậy. Ðây là một đặc điểm hình như chỉ có thơ làm được. Văn xuôi không làm được đã đành vì cái còn lại trong ta là thông báo, không phải hình thức diễn đạt. Còn âm nhạc, vũ, đòi hỏi những con người tái hiện được nó, một số rất ít. Riêng thơ là chung cho loài người. Chỉ cần anh hiểu, anh nhớ, là nó trở thành sở hữu của anh, suốt đời. Cảm xúc của thơ cũng khác cảm xúc thực tế đưa đến, hay cảm xúc của các hình thức nghệ thuật không sử dụng tiếng nói của con người (kiến trúc, hội hoạ) ở điểm sau đây: Nó là một cảm xúc được khái niệm hóa chứ không phải là cảm xúc trực tiếp. Giác quan ta không tiếp nhận trực tiếp hình ảnh âm thanh của thế giới bên ngoài và của thế giới nội tâm, mà các hình ảnh ấy có gây được cảm xúc hay không chỉ là căn cứ vào điểm nó có phù hợp với cách ta khái niệm hóa bằng ngôn ngữ hay không. Ðiều này thấy rất rõ trong cái được gọi là tính nhạc của thơ. Một câu thơ được gọi là dịu dàng, dồn dập, vang dội, bay bổng, v.v… chỉ khi nào cách tổ chức âm thanh cũng phù hợp với nội dung được biểu đạt cũng dịu dàng, dồn dập, vang dội hay không. Còn nếu nội dung khác đi thì ta chẳng thấy tính nhạc gì cả. Về hình ảnh thị giác cũng thế. Nếu hình ảnh không phù hợp với nội dung được diễn đạt thì chẳng gây cảm xúc gì. Tình hình không giống như trong âm nhạc và nghệ thuật tạo hình; ở đây âm thanh, hình tượng, tự chúng tác động trực tiếp, đẩy ta đến khái niệm. Trong thơ văn, trước hết là chữ và cách tổ chức của chữ. Ðó là điểm thứ hai. Tôi không có một học vấn triết học và tâm lý học đủ để xây dựng một lý thuyết thao tác luận về cảm xúc thơ. Các lý thuyết tâm lý học mà tôi theo dõi chưa đáp ứng được yêu cầu này. Tôi chỉ có khả năng nói đến một số biểu hiện của cảm xúc thơ rất phổ biến. Có những cảm xúc liên quan đến những thèm khát của kiếp người. Có ba loại: Loại khao khát không bao giờ thoả mãn được, nhưng giới hạn của nó ngày càng giảm bớt. Có loại khao khát hôm nay tôi chưa đạt được, nhưng trước đây hay ngày mai thế nào cũng đạt được. Cuối cùng là loại khao khát tôi đã đạt được cho tôi, nhưng vẫn có những người chưa đạt được và mơ ước của tôi là toàn thể loài người phải đạt được khao khát ấy. Cảm xúc do thơ gợi lên chính là cái khao khát tôi cảm thấy với tính cách kiếp người, cá nhân hay loài người. Ngày nào tôi cũng ăn phở, ngày nay tôi cũng ăn thì bát phở không gây cảm xúc gì đáng kể. Trái lại, tôi đói thèm một bát phở, hay được ăn bát phở thì sẽ có cảm xúc. Hay đang ăn bát phở, nhìn quanh thấy vô số người đói thì tôi có cảm xúc. Tôi muốn làm thơ gây cảm xúc, thì phải theo cái mẹo ấy: Tạo nên sự khao khát……”

    Bài viết của Ông Phan Ngọc rất dài, tôi cũng xin trích dẫn hơi dài chút xíu để lý giải cho quan điểm của tôi gần đây, khi tôi viết comment trên Damau :

    “….. Thơ không phải là thuốc lắc như 1 thế hệ trẻ đang tự ru mình trong những âm lốc của cuộc đời đốn mạt (họ chán đời và tự sướng như vậy). Xin để dành đất dụng võ cho …..văn xuôi, kịch nói, phim ảnh và hội họa chăng ! Hữu hiệu hơn ! Ngay cả Rock & Roll cũng phải cúi đầu ………..”bye bye”
    Đừng giết thơ bằng những cuồng tham danh vọng !….”
    Hoặc tôi có viết :
    “….Thơ là gì và Cái nên thơ là gì chăng !
    Hay âm nhạc, thi ca và hội hoạ,…đang bắt đầu có hiện tượng lấn sân nhau !…..”

    Ngoài ra, theo ý tôi, khi liên hệ sự phát triển của Thơ đến sự phát triển của Âm nhạc chẳng hạn. Ta thấy dù Âm nhạc phát triển rất đa dạng, từ Cải lương cho đến các tiết tấu vẫn còn ”nửa sến” như Nhạc thời thượng (Bolero, rumba), cho đến loại quằn quại như Disco, Rock, Rap, v.v….thì Âm nhạc vẫn giữ được 3 cái cơ bản là Tiết tấu (nhịp, phách), Giai điệu (sự kết hợp trầm bổng của âm thanh) và quan trọng nữa là Ca từ (chủ đề, ngôn ngữ).
    Nghĩ lại một số bài thơ mà tôi được đọc sau này, cứ cho là thơ mới không có gieo vần đi, nhưng nói về nhịp thì đọc hoài không ra (đọc thơ mà giống như làm toán, tìm lời giải cho tiết tấu của bài thơ là gì !), nhạc thơ thì cố ru hoài mà chẳng đến, ngôn từ thì….phải nói là kinh dị, nhiều khi “tục tĩu” đến mức không chấp nhận được. Tôi không biết tôi dùng từ “tục tĩu” ở đây có quá đáng chăng nhưng ví như trong đời thường, trong số bạn bè của con tôi, nghe đứa nào nói “tục” như vậy là tôi bảo con tôi phải nghỉ chơi ngay ! Không thì hỏng con mình mất !

    Rất mong Anh chỉ giải thêm !
    Chân thành cám ơn Anh
    Kính !

    TTL

     

  • Trần Doãn Nho viết:

    Thân gửi anh Trinh-Trung Lap,
    Cám ơn anh đã đọc bài viết. Cũng cám ơn anh đã gửi kèm theo trích đoạn về một quan niệm về thưởng thức thơ khá bổ ích.
    Như anh thấy qua bài viết, cách thưởng thức văn chương của tôi có phần cổ điển. Trong thế giới văn chương mỗi ngày mỗi đa dạng hiện nay, tôi chỉ mong mình được ở ngang mức “hiện đại” là đã mừng rồi. Chứ nói đến “hậu hiện đại”, tôi xin “kính nhi viễn chi”, nhường sân chơi cho các bạn trẻ hơn. Nhưng vì xem văn chương là một thế giới mở, nên tôi vẫn thường xuyên theo dõi những sáng tác mang tính cách tân. Sáng tác nào tôi thích thì đọc đi đọc lại để suy gẫm và cập nhật kiến thức, để đừng mình quá lạc hậu; tác phẩm nào không thích thì tôi bỏ qua. Thưởng thức và sáng tác văn chương, nghĩ cho cùng là vấn đề sở thích cá nhân. Không có một tiêu chuẩn nào chung cho tất cả mọi người. Dẫu vậy, theo tôi, cái gì được đầu tư kỹ, có trau dồi, có tôi luyện thì tồn tại lâu dài hơn cái gì vội vã, hấp tấp, có tính phong trào.
    Về những than phiền của anh khi đọc thơ, theo tôi, nếu có bài thơ nào anh không thích hay quá “dị ứng” như anh nói (vì tục tĩu chẳng hạn) tôi nghĩ cách hay nhất là trao đổi với chính tác giả bài thơ đó. Chắc chắn là sự trao đổi sẽ rất thú vị và bổ ích.
    Xin được chia xẻ với anh như thế. Còn chuyện “chỉ giải”, thú thật, nằm ngoài khả năng của tôi.
     
    TDN
     

  • My Khanh viết:

    Tôi rất thích câu nói của TDN trong phần góp ý “Chỉ mong mình được ở ngang mức “hiện đại ” là mừng rồi.”  Tôi cũng mong muốn được như TDN thôi.
    Thật tình, ở tuổi này, chỉ mong đừng bị lạc hậu với thời cuộc, chứ việc chạy theo trào lưu mới thì đám già chúng ta khó theo kịp, bởi thế mới còn đọc và viết chữ Việt nơi đây.
    Viêc anh TTL “đề xuất” than phiền về những “tục tĩu” trong thơ, tôi nghĩ, biết đâu đó lại là cái “mode” của người trẻ. Việc viết “tục tĩu” là ý thích của cá nhân tác giả. Còn có Hay hay không, thuộc vào quyền thẩm định của người đọc. Đó là lý do tại sao văn hóa Mạng xuất hiện.

    Những cái gì không mang tính cách Chân Thiện Mỹ, sớm muộn, tự nó sẽ bị đào thải theo thời gian.

  • gã Sáu viết:

    Tôi không biết tuổi của anh, nhưng cái lối bình văn của anh tôi phát mê. Sau cuộc chữ đến hơi chữ nghe rất lạ mà quen. Phần trích đoạn trùng với tác giả tôi ưa thích, có điều thiếu  tác giả Sông Côn Mùa Lũ mà tôi nghĩ TDN cũng thích như tôi. Có dịp anh thử viết về Cung tích Biền, một tài hoa sinh bất phùng thời, một NHT của miền nam trước đây. Thân chào. gã Sáu

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Trung Lập chân thành cám ơn ý kiến góp ý của Anh Trần Doãn Nho và Chị My Khanh.

    Đây cũng chỉ là 1 thử nghiệm của Lập về 2 chữ “tục tĩu” mà thôi.

    Như chúng ta thấy, nếu xem các từ “tục tĩu” ở trong thơ là 1 “mode” của giới trẻ và là 1 sở thích cá nhân chẳng hạn, thì không việc gì các tác giả phải dị ứng với từ “tục tĩu” phải không Quý vị ?!

    Ví như, khi Anh Đỗ Quyên bình chọn cho Trường thơ loạn của Nhóm Thơ Bình định là nhóm rất xuất sắc, thì tôi nhớ lại 1 sự bùng nổ đã xảy ra khi Hàn mặc Tử hạ bút khai sinh cho Trường Thơ Loạn : “Làm thơ tức là điên”
    thì có rất nhiều phát súng “đích đáng” choảng lại Họ Hàn, chẳng hạn Hoài Thanh kể “Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo: Hàn Mặc Tử thơ với thẩn gì, toàn nói nhảm!”.
    Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: “Thơ gì mà rắc rối thế. Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc gì, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!”. Đặc biệt Xuân Diệu là người ghét cay ghét đắng những vần thơ điên của Tử…..

    Hoặc theo Phạm Xuân Nguyên, thì phê bình thẳng trên giấy mực luôn :
    “….Điên – Loạn – Dâm, có thể coi đó là đặc trưng của “trường thơ Bình Định”với nghĩa bộc lộ hết mình và tột cùng, cả thể chất và tinh thần, trong cơn sáng tạo quyết liệt. Bởi thế, đọc thơ họ, một nhà phê bình nhạy cảm và tinh tế như Hoài Thanh cũng phần nhiều chịu bó tay. Ông “mệt lả” khi theo Hàn Mặc Tử. Ông thấy Chế Lan Viên là “niềm kinh dị”. Với Bích Khê ông thú nhận là đành “kính nhi viễn chi”. Tất nhiên, phải nói thêm ở đây, mỹ cảm của Hoài Thanh là nằm trọn trong chủ nghĩa lãng mạn, mà các nhà thơ “trường thơ Bình Định” thì ít nhiều đã vượt sang chủ nghĩa tượng trưng…và siêu thực về sau…”

    Đấy, chúng ta thấy, các tác giả Trường thơ loạn khi nghe phê bình là “thơ dâm” họ có phản đối đâu. Dâm thì người ta nhận xét là Dâm

    Như vậy, nếu trong thơ có “tục tĩu” thì cớ sao mình không hãnh diện vì đã đưa được “tục tĩu” vào thơ !

    Chân thành cám ơn Quý vị đã chia sẻ !

    Kính !

    TTL

  • My Khanh viết:

    Trong thơ có “Tục Tĩu” thì cũng đáng hãnh diện lắm chứ. Bởi có mấy ai dám viết xuống những điều Tục Tĩu trong văn chương?
    Người ta có thể chửi bậy, chửi thề ở câu nói, ra chợ cá, thấy ngay điều ấy. Nhưng viết bậy viết tục tĩu thì hiếm lắm. Vì vậy tôi gọi những cây viết “Tục Tĩu” ấy là những cây viết “Cứng, Đứng Thẳng,”, không xìu xìu ển ển. Tôi nghĩ, đó là những người dũng cảm chiến đấu trên mặt trận văn hóa. Họ mạnh dạn lôt trần những bộ mặt Thanh Cao Tao Nhã mà giới Cổ Nho ca ngợi cổ suý. Họ thẳng thừng, thích thì nói thích, yêu thì nói yêu, yêu mà không dâm không đ.. thì gọi “yêu chay”, yêu giả dối. Cứ hét toáng lên qua chữ viết, giải tỏa được cơn “bức xúc” cho nòi tình đã cơn thì đã chết “thằng Tây” nào đâu. Việc hứng tình, thì thụt đút vào là bản năng của con người, tại sao phải dấu diếm quanh co.

    Bởi vậy tôi tôn trọng tự do cá nhân. Người viết có tự do, muốn viết gì cũng được, không sao hết. Nhà văn thơ là người sáng tác ra một món ăn tinh thần, rồi đăng tải, mời mọi người thưởng thức. Làm sao biết được có hợp khẩu vị với người đọc hay không.
    Còn người đọc thì như thực khách đi ăn ở nhà hàng thôi. Chỗ nào ngon, khách bước vào. Chỗ nào “hắc mùi” quá, khách lui êm. Ăn không trả tiền mà đòi hỏi chi nhiều thế!
    Lúc xưa có giòng thơ “Điên” thơ “Dâm”, bây giờ có thêm thơ “Tục Tĩu” xếp chung vào một lọai, chẳng có gì ngạc nhiên cả.

    Sống trong cõi tục, thân còn nhuốm mùi tục lụy, còn thèm ôm em hôn hít thì việc có thêm chút ‘tục tĩu’ trong thơ văn, đâu có sao, như bỏ thêm chút mắm tôm vào tô bún mắm thôi í mà. Đừng bận tâm TTL ơi.
    Chào thân,

    TB: My name is Khanh. gọi tắt là My Khanh, xin đừng đặt “chị” trước Khanh.
     

  • Trực Nguyễn viết:

    K/g tác giả Trần Doãn Nho,
    Cám ơn anh đã cho đọc một bài viết thật hay và công phu.  Những đoạn trích của 10 tác giả chọn lọc đều hay và đặc thù cho mỗi người.    Duy có đoạn trích của cô Thơ Thơ là tôi cảm thấy khó hiểu.  Tôi đọc đoạn ấy, và toàn bộ truyện ngắn ấy nhiều lần nhưng cũng chịu thua.   Cô ấy viết siêu thực quá.  Các tác giả kia thì gần với thực tế hơn nên dễ cảm thông hơn.  Cám ơn anh một lần nữa.
    Trực Nguyễn

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính gửi : My Khanh
    Trước hết, thành thật xin lỗi MK vì đã đặt nhầm chữ “Chị” trước chữ Khanh ! Nhưng cũng tại vì MK đặt tên hơi kỳ (hì…hì), vừa Anh vừa Việt nên Lập ngỡ là “con gái”, nay mới biết là không phải là “con gái”, một lần nữa Lập xin chân thành “appologize”. Mong MK tha thứ !
    Lập rất mừng vì “phép thử” của Lập đã bắt đầu có tác dụng, vì Lập đã khai hoả cho 1 sự bài xích Thơ Tục tĩu ! Lập chỉ có tấm lòng ước ao Damau vẫn mãi mãi giữ “thơm” quê Mẹ mà thôi. Chính vì vậy, nói MK đừng cười nhé, đang đi công tác ở miền xa (Central Vietnam) mà Lập không bỏ được thói quen ra quán net để đọc Damau mỗi khi rãnh rỗi (Chi phí tiền net thì không bao nhiêu, nhưng trăn trở cho 1 mối đoàn kết giữa 2 “làn” tiếng Việt thì không bao giờ nguôi (hi..hii..không phải 2 làn đạn đâu nhé)
    Nếu MK đã bỏ qua thì Lập xin phân tích góp ý của MK chút thôi, mong MK quảng đại lắng nghe !
    - MK nói “Sống trong cõi tục, thân còn nhuốm mùi tục lụy, còn thèm ôm em hôn hít thì việc có thêm chút ‘tục tĩu’ trong thơ văn, đâu có sao, như bỏ thêm chút mắm tôm vào tô bún mắm thôi í mà.”
    Lập thấy MK dùng từ Tục luỵ, nên cũng mạo muội suy nghĩ và thoáng chút nhạc nhiên khi chữ Tục luỵ thì thường dành cho người đã giác ngộ, nên càng lánh xa những thú vui tầm thường mà MK lại xem như Tuc tĩu như những gia vị hảo hạng của Tô bún mắm ! Ý này có mâu thuẫn nội tại chăng ?
    - Đối với Lập, Thơ Thần linh, Thơ Điên, Thơ Loã thể thì không thể cho Thơ Tục tĩu đứng chung được (Ý chủ quan thôi)
    - Còn tự do cá nhân thì cũng còn tuỳ thuộc vào những qui định củ thể của Công luật, theo Lập học được, ở Mỹ (MK có sống ở đó không ) những ai “quấy rối tình dục” thì càng bị xem như 1 căn bệnh và có thể bị kiện ra toà án. Ngày nay ở Việt nam thì gọi đó là những kẻ biến thái và tác phẩm như vậy gọi là văn hoá phẩm đồi truỵ !
    - MK nói “Vì vậy tôi gọi những cây viết “Tục Tĩu” ấy là những cây viết “Cứng, Đứng Thẳng,”, không xìu xìu ển ển. Tôi nghĩ, đó là những người dũng cảm chiến đấu trên mặt trận văn hóa. Họ mạnh dạn lôt trần những bộ mặt Thanh Cao Tao Nhã mà giới Cổ Nho ca ngợi cổ suý.”
    Ý này rất hay, nhưng mục tiêu thì tốt còn phương tiện để đạt được mục tiêu đó bằng Thơ Tục tĩu thì không tốt. Lập nghĩ khác MK chút xíu. Văn hoá không phải là mặt trận và Cổ Nho cũng không phải là địch thủ. Lập chưa hiểu hết ý MK Cổ Nho xấu ở điểm nào nhưng Lập thì vẫn yêu quí những gì thuộc về Cổ Nho, còn những “tật xấu” của mấy “ông bà già” xưa không phải thuộc về Cổ Nho ! Đó chỉ là cách bảo thủ của tuổi già, có lẽ thời nào cũng có ! 
    Không biết MK là “nam” hay “nữ” (hì……hì…..) ! Lập thì lục nào cũng xem “phụ nữ” là ”dễ vỡ”, không bao giờ muốn “đánh nàng” bằng loại “vũ khí” nào, dù chỉ bằng 1 nhành hoa ! (hì…hì…)
    Mong hồi âm của MK !
    - 27.11.2009 vào lúc 5:54 pm

    - 27.11.2009 vào lúc 6:08 pm

  • My Khanh viết:

      
    Điều TTL mong mõi là “ước ao Damau vẫn mãi mãi giữ “thơm” quê Mẹ”  : Không riêng chỉ TTL mong muốn. Mọi người, khi đã vào đọc DM đều có niềm mong ước ấy.
     
    Tuy nhiên, ngày  23/11/2009 @5:21 am, TTL góp ý : “Nghĩ lại một số bài thơ mà tôi được đọc sau này, cứ cho là thơ mới không có gieo vần đi, nhưng nói về nhịp thì đọc hoài không ra (đọc thơ mà giống như làm toán, tìm lời giải cho tiết tấu của bài thơ là gì !), nhạc thơ thì cố ru hoài mà chẳng đến, ngôn từ thì….phải nói là kinh dị, nhiều khi “tục tĩu” đến mức không chấp nhận được. Tôi không biết tôi dùng từ “tục tĩu” ở đây có quá đáng chăng”
     
    ????? (Tôi không hiểu ý này, qúy vị  nào hiểu, xin cho biết hoặc TTL cho dẫn chứng, nếu có thể.)
     
    Có thể tôi đã hiểu lầm ý của TTL, nên tôi trả  lời: “Sống trong cõi tục, thân còn nhuốm mùi tục lụy, còn thèm ôm em hôn hít thì việc có thêm chút ‘tục tĩu’ trong thơ văn, đâu có sao, như bỏ thêm chút mắm tôm vào tô bún mắm thôi í mà.” Đừng bận tâm TTL ơi.
    Xin lưu ý các chữ được in đậm và gạch dưới là động từ trong câu. 
     
    Trước hết tôi xin có lời về chữ Tục Lụy được dùng nơi đây, tôi có ý nói về những ham muốn xác thịt. Bởi khi tôi viết, tôi nghĩ là tôi viết cho nhiều người đọc:  Trước hết là BBT của DM đọc để cho phép hiển thị, kế đến là độc giả ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ, mọi nơi trên thế giới. Nếu không dùng chữ Tục Lụy, tôi sẽ dùng chữ gì hở?
     
    Thú thật, vốn liếng từ ngữ của tôi không nhiều. Tôi đã nghĩ đến câu viết như sau “Sống trong thế giới này, gặp em mà không đụ được em, anh muốn điên lên được. Trời ơi! Thèm em muốn ‘chít’ luôn. Chỉ muốn đè em ra, lột trần truồng, bú liếm cho đã rồi nhét thốc vào….(tác giả tự kiểm duyệt)…..”  Hoặc tôi cũng đã nghĩ tới câu viết “Sống trong đời sống, thằng nào mà không biết lột quần đàn bà thì thằng ấy là hoạn quan.(Mọi người có cần tôi giải nghĩa chữ “Hoạn Quan” không?)Hoặc:  Yêu em mà không đè ngữa em ra được  thì  đứa đó dở dở ương ương, là đứa vô tích sự, có của qúy để dùng mà không biết xài, đúng là Cán Ngố chỉ biết ăn phở “không người lái” như bác Hồ….(nhưng Bác Ta ăn phở nạm gầu tái chín lúc nào, ai biết được)….” Etc…..cuối cùng (tác giả) MK tôi tự kiểm duyệt nếu còn muốn bài viết được hiển thị  
     
    Viết và Lách là như vậy.
     
    Đến phần đọc đoạn góp ý (sau đây) của TTL viết cho tôi, tôi thấy có cái gì không ổn.
     
    Lập nghĩ khác MK chút xíu. “….. Văn hoá không phải là mặt trận và Cổ Nho cũng không phải là địch thủ. ……..Không biết MK là “nam” hay “nữ” (hì……hì…..) ! Lập thì lúc nào cũng xem “phụ nữ” là ”dễ vỡ”, không bao giờ muốn “đánh nàng” bằng loại “vũ khí” nào, dù chỉ bằng 1 nhành hoa ! (hì…hì…)
     
    Tôi bèn thắc mắc:  Đã không là mặt trận, tại sao có việc“đánh nàng” ? Bởi tôi nghĩ, “Đánh” có nghĩa đã chia thành 2 phe, có chiến tuyến và mặt trận rõ ràng. Choảng nhau cho đến lúc có kẻ gục ngã, đạt cho được mục tiêu tối hậu Thống Nhất Hoà bình, phải không?
     
    Rồi tôi trở ngược về phía đầu bài, với phần TTL xin lỗi vì nhầm chữ “chị”……
     
    Hahahaha…..đến đây thì tôi dở khóc dở cười. Nghĩ bụng, dưới mắt hàng xóm DM, có lẽ mình sắp thành Thái Giám đến nơi!!!!!! Khi nào có vacation, hì,hì,…chắc phải đi Thái Lan thăm dân Pê-Đê cho biết sự tình.
     
    Đó là phần hồi âm cho TTL.
     
    Trở lại vấn đề. Như đã nói, tôi quan niệm Tính dục là một thứ gia vị (như nêm chút mắm tôm vào tô bún mắm). Còn việc cho gia vị nhiều hay ít là tùy theo ý thích của mọi người. Ở đây, Xin cho thêm chút nhắc nhở, “Có cho thêm mắm tôm thì liệu chừng nha, bản thân bún mắm đã  nặng mùi, thêm nhiều mắm tôm thì  khắm lắm. Ăn không được, đổ đi thì uổng phí công phu biết chừng nào.”  (Nhớ giùm cho, tôi ví dụ với tô bún mắm, tôi không bảo cho mắm tôm vào bát miến gà đâu nha.) 
     
    Tóm lại, tôi vẫn “Tôn Trọng Tự Do Cá Nhân” .
     
    Đó là:  Ai muốn viết gì thì viết, tác giả được tự do trình bày tư tưởng. Khi nào viết xong, gửi bài  đến Website. Ban Biên Tập chọn bài đăng tải theo với chủ trương đặt ra qua các chủ đề. Cuối cùng, người đọc tha hồ chọn lựa thể loại bài viết hoặc tác giả mà mình ưa thích.
     
     Tôi nghĩ một cách đơn giản. Nhà thơ, nhà văn như một người đầu bếp của một tiệm ăn Buffet, và nhà hàng là Báo Website. Độc giả là thực khách.
     
    Bước vào một tiệm Buffet, khách tha hồ chọn lựa món ăn tùy theo “gu” của mình. Và khi ăn, món nào ngon thì nuốt, không ngon lè ra, nhổ!! Đâu có ai bắt mình ăn thức ăn thiu, phải không?
     
    Đã có nhà hàng Website “Chùa”  cho đọc “Free”  là tốt lắm rồi. Cho nên ăn xong, lỡ có bị “Tào rượt” là tại mình tham ăn món ‘thiu, mốc’ , chứ không phải tại “Quán Chùa” làm hại đâu, xin đừng đổ tội cho Báo, cho Website.
     
    Và Xin thêm một điều: Đừng dè bỉu chê trách bài viết mà đau lòng tác giả!!!
     
    Công lực MK tôi có hạn, chỉ biết mang các món ăn ra làm ví dụ.  Của đáng tội MK tôi có bằng chuyên nghiệp rửa chén nhà hàng,  kiến thức có ngần ấy mà thôi. Viết dài, viết dai thế nào cũng lòi ra sai sót. Nhưng bởi TTL khai pháo, tôi ráng nặn ra chữ. Nếu chẳng may có điều chi thất thố, mong qúy vị niệm tình tha thứ.
     
    Thân chào.
     
    MK

  • Trực Nguyễn viết:

    Thân gởi anh Trịnh Trung Lập và My Khanh,
    Thấy hai anh tranh luận hăng hái quá tôi xin tham gia.
    1.  Về các ý kiến của anh Trịnh Trung Lập tôi hoàn toàn ủng hộ.  Thơ là phải có cái đẹp của ngôn ngữ.   Nếu dùng những từ ngữ Tục Tĩu (dù cho có biện minh rằng đó là những bản năng tự nhiên của con người) thì không phải là Thơ.  Thử hỏi tiểu tiện, đại tiện có phải là những nhu cầu tự nhiên của vạn vật trên thế gian này không nhưng tại sao Con Người lại dùng từ ngữ Nhà Vệ Sinh thay vì những chữ như cầu tiêu, chỗ đi đái…Ngôn ngữ dùng trong mỗi trường hợp phải có sự chọn lọc, không phải bạ đâu xài nấy.  Một người có văn hóa trong cách ăn nói phải khác với người không có văn hóa.  Nếu ông My Khanh không đồng ý với ý kiến này thì ông cứ về nhà mà xưng hô mày tao với cha mẹ coi có được không.
    2.  Không thể nói tất cả mọi cái trên đời đều đẹp vì nó là tự nhiên, là trời sinh ra thế.  Nếu theo như lý luận của ông My Khanh thì cứ ra giữa đường mà bài tiết rồi bảo rằng cái này là trời sinh, cũng giống như chuyện sinh lý nam nữ, có gì xấu đâu mà phải che che giấu giấu.  Thử hỏi như vậy có được không ? 
    2.  Ông My Khanh nói nhà văn nhà thơ như đầu bếp của một tiệm buffet, nhà hàng là website, độc giả là thực khách.  Tôi thấy sự so sánh này không chuẩn.  Thơ, văn là văn hóa, là tinh thần, là phương tiện hướng con người đến một quan niệm sống , một thái độ sống nào đó.  Người làm văn hóa quan trọng hơn nhiều chớ không phải chỉ là người làm cho đầy cái bao tử không đâu. 

    Xin cám ơn hai anh Lập và Khanh

    Trực Nguyễn

  • My Khanh viết:

    Có Trực Nguyễn tham gia thảo luận, tôi thấy có thêm hào hứng.

    Tôi rất đồng ý câu này của TN ” Ngôn ngữ dùng trong mỗi trường hợp phải có sự chọn lọc, không phải bạ đâu xài nấy.  Một người có văn hóa trong cách ăn nói phải khác với người không có văn hóa.”  Vì vậy, trước nhất, để kết giao tình hàng xóm ở DM,  tôi tặng TN bài thơ “Tình Cảm Thơ” của thi sĩ Vương Ngọc Minh (số ra ngày 30/11/2009- Thơ nóng, mới ra lò ngày nay đấy.)

    Tuy nhiên tôi vẫn còn lấn cấn ở câu kế tiếp của TN. “ Nếu ông My Khanh không đồng ý với ý kiến này thì ông cứ về nhà mà xưng hô mày tao với cha mẹ coi có được không.”

    Trực Nguyễn bạn ta ơi! Sao nói chi điều đau lòng quá đỗi.  Cũng vì khi xưa tôi cãi “Cha già Dân tộc” nên tôi bị lũ Ưng Khuyển đuổi xua, thân này phải lưu lạc ra xứ người. Mỗi năm tôi thấy người Mỹ đón mừng Thanksgiving xum họp gia đình, lòng này bồi hồi thương về đất mẹ. Năm nay lũ lụt mênh mông, thằng con lớn (là tôi) mắc lao động nơi xứ người, đứa em gái còn bận làm dâu nơi Hàn Quốc Đài Loan. Giông bão kéo về, nhà xiêu mái xập,  em út ở nhà, có chi nuôi mẹ.  Thân này đứng ngồi không yên. Rồi tôi giận luôn cái tôi của mình.  Giá khi xưa, mình không ương ngạnh cãi “Cha già dân tộc”, không “mày, tao” với ổng, một lòng ở lại  quê hương, tay kiếm tay cờ thì ngày nay đất mẹ đâu u sầu, em gái đâu đi làm dâu xứ người, em trai đâu thất nghiệp nhìn công nhân Tàu chen nhau ở quặng Bô xít, và cả nhà thì nuốt lệ nhìn hòn đảo Hoàng Sa, Trường Sa tuột khỏi bản đồ xứ Việt!!!!

    Trực Nguyễn bạn ta ơi! Bạn nói đúng thêm điều nữa: ở Mỹ, MK tôi không dám ra giữa đường đái bậy vì chẳng thấy đứa Mỹ nào mang ‘Lòng Dồi’ ra nơi công cộng cả. Nhiều lúc tôi muốn chửi cái xứ gì kỳ cục, ‘toa-lét’ nhiều hơn nhà ở. Đi mua nhà, mấy ông bà địa ốc luôn luôn khoe “Nhà thì có 1, nhưng ‘toa-lét’ 2,3  hoặc hơn nữa” . Rồi ngay cả ở Freeway, cứ vài chục dậm đường lại xuất hiện “Restroom area”. Chả bù cho bên nhà, cái bảng “Cấm Đái Bậy” cắm tùm lum, mọi nơi, không có đất để cắm bảng, thì viết luôn trên vách vậy. Nếu không nhiều người làm bậy, sao có nhiều chữ “Cấm”???

    Mà tôi cũng thấy làm lạ về cái xứ Mỹ lắm bạn ạ. Tiệm nhảy ‘chuổng cời’  Sexy luôn tưng bừng náo nhiệt. Phim XXX vẫn phát hành dài dài. Trong lúc báo giấy la làng vì bị báo online giết, thì tạp chí Playboy chẳng nao núng, và nền văn minh xứ Mỹ  vẫn cứ dẫn đầu thế giới.  Sao lạ thế nhỉ? Tôi chịu thua, không thể giải thích nỗi trước hiện tượng này, chỉ biết chủ nghĩa cá nhân ở đây được coi trọng, thế thôi.  

    Trực Nguyễn bạn ta ơi! Tôi biết chắc, tôi sẽ lãnh một cặp trứng ngỗng to tướng trong bài thi nếu cứ so sánh Nhà Thơ/Văn như đầu bếp, Website văn chương như nhà hàng buffet, và độc giả như thực khách. Nhưng nếu không dùng ví dụ ấy, tôi sẽ giải thích ra sao cho mọi người hiểu về hoạt động của ngưòi làm văn hóa. Tôi thắc mắc: Văn thơ không phải là món ăn cho tinh thần. Vậy thì Nó là cái gì? Thua, tôi xin nhận thua, lãnh trứng về nhà luộc vậy.

    Tôi, cái đứa vô tích sự, chẳng làm nên trò trống gì.

    Xin hãy giúp tôi, các bạn ơi!!!!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)