Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định, Đọc và Đọc lại Email bài này

Đọc The English Patient

 

 

 

Tiểu sử của Michael Ondatjee: 

Michael Ondatjee sinh ngày 12 tháng 9 năm 1943.  Ông ra đời ở Sri Lanka nhưng mang quốc tịch Canada.  Tốt nghiệp Cử Nhân ở đại học Toronto và Cao Học ở Queen’s (Canada).  Ông là giảng viên của Đại học York và Glendon từ năm 1971 đến năm 1988.  Ngoài viết văn, ông còn làm thơ và viết phim truyện.  Ông được rất nhiều giải thưởng trong đó tác phẩm The English Patient được giải Booker và giải thưởng Governor General.  Tác phẩm được viết theo thể loại văn xuôi của ông gồm có Anil’s Ghost, The English Patient,  In the Skin of a Lion, Coming Through Slaughter,Divisadero.

 

Truyện xảy ra vào lúc thế chiến thứ Hai sắp kết thúc.  Quân đội Đồng Minh ở miền Nam nước Ý đang kéo quân về miền Bắc.  Hana, cô y tá hai mươi tuổi gốc người Canada, nhất quyết xin được tách rời hàng ngũ ở lại miền Nam nước Ývới lý do chiến tranh kết thúc và một bệnh nhân của cô đã quá yếu; ông ta sẽ không chịu nổi cuộc hành trình.  Đây là một bệnh nhân vô danh, ông ta không còn nhớ tên tuổi của ông ấy. Người ta chỉ đoán ông là người Anh bởi vì ông nói giọng Anh rất đúng.  Hai người ở trong một ngôi nhà thờ cổ trước đây được dùng làm bệnh xá.  Không ai biết tung tích của người bệnh nhân này.  Một nhóm dân Bedouin sống trong sa mạc Sahara bắt gặp ông bị bỏng nặng ở gần một chiếc phi cơ bị rơi.  Họ cứu ông khỏi chết và trị bỏng cho ông nhưng ông bị biến dạng đến độ không còn nhận được mặt mày.  Tuy không nhớ tên và quá khứ của chính mình, ông có thể nhớ tất cả những chi tiết về kỹ thuật chế tạo, đặc tính cũng như cách sử dụng nhiều loại vũ khí.  Không lâu David Caravaggio và Kip cũng gia nhập nhóm với Hana và bệnh nhân người Anh.  David Caravaggio là bạn của bố của Hana.  Vốn là tay móc túi chuyên nghiệp và nhờ tài này David được kết nạp vào hàng ngũ gián điệp của Anh với nhiệm vụ ăn trộm tài liệu của Đức.  Vì có người phản bội, tung tích của David bị tiết lộ.  Ông bị quân đội Đức tra khảo đến độ cắt mất hai ngón tay cái của ông.  David truy tìm những kẻ phản bội này và đã giết vài người để trả thù.  Còn một người David vẫn còn ráo riết truy lùng là Almásy, một bá tước gốc người Hungary, cũng là người lãnh đạo nhóm thiết lập bản đồ sa mạc Sahara. David tìm gặp Hana một phần vì nàng là người đồng hương, một phần vì ông bị nghiện morphine; ông đã dùng để giảm đau khi hai ngón tay cái của ông bị cắt đứt. David biết Hana có dự trữ morphine để chữa đau cho bệnh nhân người Anh.  Kíp là người Ấn Độ, chuyên viên phá gỡ bom mìn làm việc cho quân đội Anh.  Anh nghe tiếng đàn dương cầm của Hana vọng ra từ ngôi nhà thờ cổ nên tìm đến với mục đích ngăn ngừa tai nạn xảy ra vì lính Đức thường gài bom vào đàn trước khi rút quân ra khỏi làng.  Hana và Kíp là những người bị chiến tranh cướp mất người thân nên tâm hồn họ trở nên chai đá.  Dần dần cả hai trở nên cởi mở hơn rồi yêu nhau.  Kíp cũng rất hợp chuyện với bệnh nhân anhnên họ trở nên thân thiết. Chỉ có David ngay từ lúc đầu đã nghi ngờ bệnh nhân anhchính là Bá tước Almásy, người đã phản bội và vì sự phản bội này David bị mất hai ngón tay cái.

Bệnh nhân Anhđang chết dần mòn nên không còn muốn dấu diếm tông tích của mình. Ông xem như mình đã chết từ lâu, kể từ khi trái tim ông đã chết. Thêm vào đó là David khai thác tin tức bằng cách cho bệnh nhân dùng morphine và rượu.  Bệnh nhân Anh đưa mọi người vào thăm quá khứ của ông.  Ông chính là Almásy.

Nhóm thám hiểm, do một Bá tước người Hungary tên là László de Almásy dẫn đầu, có nhiệm vụ vẽ bản đồ sa mạc Sahara .  Đôi vợ chồng trẻ tuổi và giàu có, Goeffrey và Katherine Clifton tham gia đoàn thám hiểm và được Almásy tiếp nhận nồng hậu vì máy bay của Goeffrey sẽ giúp công việc dễ dàng hơn.  Goeffrey là nhân viên tình báo của Anh có nhiệm vụ chụp ảnh sa mạc Sahara từ không trung xuống để làm bản đồ phục vụ cuộc chiến tranh thứ hai đang bắt đầu bùng nổ; cô vợ trẻ xinh đẹp được Goeffrey mang đi khắp nơi với mục đích ngụy trang công việc.  Theo đoàn thám hiểm nhiều tháng trong khi Goeffrey thi hành điệp vụ, do gần gũi tiếp xúc hằng ngày, cái đẹp của Katherine đã chinh phục trái tim chàng, và cái nam tính của nhà thám hiểm Almásy đã ngự trị tâm hồn nàng. Trở về Cairo hai người tiếp tục yêu nhau say đắm, nhưng sau đó, Katherine đoạn tuyệt với Almásy vì sợ chồng khám phá và cũng vì hai người thường có những chuyện bất hòa của hai người cùng có cá tính rất mạnh.  Khi mới yêu nhau Almásy cho biết chàng không thích bị xem là sở hữu của bất cứ người nào, tuy nhiên về sau chính chàng lại là người rất chiếm hữu nên đâm ra ghen tuông và vì ghen thường làm Katherine đau đớn.  Cuộc tình tan vỡ Almásy trở lại với sa mạc tiếp tục công việc vẽ bản đồ. Goefrey tình nguyện đem phi cơ đi đón Almásy khi nào công việc xong.  Thay vì đón Almásy, Goeffrey, vốn đã biết chuyện tình của Almásy và vợ, chở Katherine theo với âm mưu giết vợ, tình địch và tự tử.  Goeffrey cho máy bay tông vào tình địch nhưng chàng điệp viên này bất tài quá nên chẳng những kế hoạch của anh ta đã không giết được Almásy mà chính anht ta vong mạng, và Katherine bị thương nặng.  Almásy phải để Katherine ở lại một hang động rồi đi bộ vượt sa mạc để tìm cách cứu người yêu.  Khi ông đến một thành phố gần nhất để cầu cứu, thì thế chiến thứ Hai đã đến hồi ác liệt.  Ông bị người Anh bắt giam vì họ nghi ông là gián điệp.  Ba năm sau ông trốn khỏi tù rồi mang tất cả tài liệu và bản đồ Sahara giao cho Đức để đổi lấy nhiên liệu và những thứ cần thiết để ông có thể đến chỗ giấu của một máy bay cũ và dùng máy bay này đi đến hang động ông đã để Katherine ở lại dù ông vẫn biết là đã quá trễ.  Máy bay của ông bị rơi và bốc cháy trong sa mạc.  Vì ông giao bản đồ và tài liệu cho Đức nên người ta khám phá ra điệp vụ của David.  Sau khi nghe Almásy kể lại vì sao ông ta phản bội, David quyết định không giết Almásy, một phần Almásy đã gần đất xa trời, một phần có lẽ vì thấy Almásy đã bị đau đớn dày vò trong nhiều năm.  Khi nghe tin Đồng minh thả bom nguyên tử trên đất hai thành phố lớn của Nhật, Kíp cho là hành động này là cử chỉ bất nhân của người da trắng đối với người da màu nên từ bỏ quân đội và chia tay với Hanna.  Rất ngầm, Almásy cũng cho là Đồng minh đã phản bội ông khi giam giữ ông vì thế ông không cứu Katherine kịp thời.  Sự phản bội trong chiến tranh chỉ là trò trẻ con so với sự phản bội trong thời bình.

Hanna yêu mến Almásy bởi vì bố của Hanna cũng bị thương và bị bỏng rất nặng, trong trận chiến này.  Người ta đã phải bỏ ông lại trên một căn gác nuôi chim bồ câu. Ông chết trong đau đớn và cô đơn.  Hanna đã săn sóc bệnh nhân Anh như thể tự xoa dịu nỗi ray rức là đã không thể chăm sóc người cha lúc lìa đời.  Về sau Kip trở thành Bác sĩ, lấy vợ có con nhưng thường nghĩ đến Hanna.

Quyển sách này chứa đựng hai chuyện tình, một xảy ra trong quá khứ và một xảy ra trong hiện tại.  Nhân vật chính bao gồm bốn cuộc đời hoàn toàn khác biệt nhau, một nữ trợ tá, một tên trộm chuyên nghiệp, một bệnh nhân, và một chuyên viên tháo gỡ bom mìn.

Chuyện tình trong quá khứ là mối tình say đắm, trái ngang và tội lỗi, của Almásy và Katherine, xảy ra trong khung cảnh đầy phiêu lưu và rất kỳ bí của sa mạc Sahara và ở Cairo , thủ đô Ai Cập vùng đất đặc biệt chứa rất nhiều hình ảnh của Ai cập thời tiền sử.  Trong phim Almásy (Ralph Fiennes) và Katherine (Kristin Scott Thomas) là một đôi nhân tình xứng đôi.  Tuy nhiên trong truyện cho biết Almásy hơn Katherine ít ra là mười lăm tuổi.  Tóc ông đã bắt đầu rụng và thưa, tuy nhiên Katherine bị hấp dẫn bởi sự hiểu biết của ông.  Nàng quan sát, học hỏi, ngưỡng mộ rồi trở nên yêu ông. Thời bấy giờ, Ai Cập là nơi trao đổi tin tình báo.  Nơi đây xảy ra những cuộc đụng độ nảy lửa trong sa mạc giữa Đồng Minh và phe Trục mà không ai dám nói đến.  Vào năm 1939 đối với các sắc dân sống trong sa mạc máy bay từ trên trời rơi xuống sa mạc không phải là chuyện lạ.  Quyển sách đưa người đọc vào một thế giới lạ lùng và khắc nghiệt.  Nơi đây có những cơn bão cát nóng đến độ có thể đốt cháy bất cứ những gì trên đường chúng đi ngang, hay những ốc đảo chỉ xuất hiện trong một thời gian rất ngắn, khi có mưa cây cối mọc lên thật nhanh rồi sau đó khi nước cạn, cả ốc đảo biến mất không để lại dấu vết nào.  Nơi đây có những con đường mà trước kia là đáy sông.  Trên tường của nhiều hang động trên các vách đá cao dựng đứng vẫn còn rất nhiều tranh vẽ nhiều tư thế của người bơi lội bởi vì ngày xưa những hang động này nằm chìm dưới đáy hồ.

Chuyện tình trong thời hiện tại là tình yêu của Kip và Hana, hai con người bị ù lì chai đá vì chiến tranh.  Nhờ tình yêu họ cởi bỏ lớp da lãnh đạm, bộc lộ hai tâm hồn nhạy cảm và đơn độc.  Họ yêu nhau chỉ biết ngày hôm nay, không dám nghĩ đến ngày mai.  Chuyện của đôi tình nhân trẻ tuổi này xảy ra trong một khung cảnh lãng mạn nơi có những bức tranh cổ của Verdi, những bức tượng điêu khắc, những nguồn nước phún, vườn hoa, trong lâu đài, nhà thờ cổ của Medicis ở miền Nam nước Ý.  Tình yêu của Kip và Hana chấm dứt khi họ nhận ra sự phi lý của chiến tranh và sự hy sinh của họ cũng không kém phần phi lý. Bằng hành động của Kip, giơ súng nhắm bắn Almásy, chối bỏ tình yêu của Hana, rời bỏ quân ngũ, Ondatjee muốn biểu lộ sự phản kháng hành động tàn sát chủng tộc của người da trắng đối với người da màu, đừng quên nhân vật Kip là người Á châu, và hai trái bom nguyên tử đã thả lên Nhật Bản. Trong cơn giận tột độ đối với Kip Hana không còn là người yêu; bệnh nhân anhkhông còn là bạn; và những người đồng ngũ trong quân đội cũng không còn là những người đã chung vai sát cánh thi hành nhiệm vụ; họ chỉ là những người da trắng. Kip chọn trở về bên này biên giới da màu sau khi anh đã cố gắng hội nhập vào thế giới của người da trắng. Ondatjee đã bày tỏ một lập trường chính trị, tuy nhiên cách thể hiện không mấy thuyết phục.

Có thể nói Ondatjee là một nhà văn có tài phù thủy. Ông táo bạo kết hợp tinh túy của hai nền mỹ thuật, Ai Cập thời tiền sử và La Mã từ thế kỷ 15 và 16, rồi dùng tính chất tàn phá của kỹ thuật vũ khí hiện đại để tương phản với sự tinh túy của mỹ thuật trong tác phẩm này. Ông đã biến hóa một cách rất vi diệu, những tài liệu kỹ thuật gỡ bom phá mìn khô khan thành ra những giây phút căng thẳng gay cấn khi sự sống có thể bị Tử thần tước đoạt trong đường tơ kẻ tóc, lôi cuốn đến độ người ta thấy tiếc nuối khi chấm dứt quyển sách. Ondatjee lôi cuốn người đọc với giọng văn đầy âm điệu như thơ.  Văn của ông cũng rất tượng hình, cho người đọc cảm giác đang nhìn một tấm ảnh nghệ thuật hay xem một đoạn phim.  Ông quan sát tinh tế, nhận xét sắc bén, bày tỏ những quan sát nhận xét này một cách chắt lọc cô đọng biểu lộ sự thông thái đầy triết lý. Trong tác phẩm Đợi Chờ, Hajin đã cho nhân vật của ông trong suốt mười tám năm cứ mỗi mùa hè trở về quê nộp đơn ly dị vợ làm người đọc tự hỏi động cơ nào và lỗi tại ai đã làm nhân vật này bền bỉ theo đuổi mục đích này. Khalid Hosseini đã cho nhân vật trong quyển The Kite Runner (tạm dịch Theo Cánh Diều) ôm nỗi hối hận cùng với nhục nhã trong suốt hai mươi sáu năm vì đã hèn nhát và phản bội người em khác mẹ, người bạn cũng là người đầy tớ trung thành đã bảo vệ mình. Qua tác phẩm Bệnh Nhân Anh, người đọc cũng cảm nhận được một nỗi đau dai dẳng khắc khoải tương tự như nỗi đau của những nhân vật trong các tác phẩm nói trên. Khó mà không đau với cái đau của Almásy khi bị giam trong tù biết là Katherine đang chết dần mòn trong hang động vì lỗi lầm của chàng; nếu Almásy khai thật Katherine là vợ của Goeffrey Clinton, một người Anh nổi tiếng trong giới thượng lưu cũng như giới tình báo, thì người ta sẽ cứu Katherine ngay, tuy nhiên Almásy đã nói dối Katherine là vợ của chàng. Ondatjee cũng không kém phần khắc nghiệt khi cho nhân vật sống ngắc ngoải với cơn đau thể chất vì bị bỏng và nỗi đau tinh thần vì cái chết của Katherine. Và chính nhờ sự khắc nghiệt này mà độc giả bị thu hút hơn.

Quyển sách có một số chi tiết không hợp lý.  Phi cơ của Almásy bị rơi ở Sahara .  Ông bị bỏng nặng da trở thành màu đen như than không còn hình dáng ban đầu, không có giấy tờ chứng minh, nói giọng Anh như người Anh bởi vì tuy ông là người Hungary ông đã học tiểu học ở Anh. Nếu người ta ngỡ ông là người Anh thì tại sao lại chở ông qua miền Nam của Ý, hai quốc gia cách nhau cả một cái biển?  Tại sao Almásy được người ta mang theo khắp nơi, được bảo vệ, được săn sóc dù không ai biết tông tích thật của ông trong khi bố của Hana đã bị bỏ lại ngay trên chiến trường ông tham gia?  Phi cơ của ông bị cháy từ khi ông còn ở trên không trung.  Ông phải cho phi cơ lộn ngược đầu để có thể rơi ra khỏi phi cơ bằng chính trọng lượng của ông ta khi ông không còn sức lực để tự rút chân ra khỏi chỗ ngồi.  Ông bị bốc cháy từ khi còn mang dù trên không trung, thế thì làm sao ông có thể mang theo quyển lịch sử của Herodotus, một bảo vật mà ông đã ghép vào những hình ảnh, lưu niệm của Katherine, kể cả mảnh giấy kẹo?  Vâng, tuy tôi chẻ sợi tóc làm tư, nhưng những điểm hay của quyển sách này đã làm tôi say mê đến độ bỏ qua những chi tiết không hợp lý này.

 

Trích đoạn:

Đàn bà thường đòi hỏi tuyệt đối ở người yêu.  Mà tôi lại thường xuyên biến mất vào trong cát vì nhiệm vụ trong quân đội.  Nàng lo ngại về chồng của nàng, về những điều cấm kỵ không thể dây vào nếu muốn giữ cho danh dự được vẹn toàn, về bản tính của tôi vốn không muốn lệ thuộc hay quị lụy ai; chuyện tôi thường xuyên biến mất làm cho nàng nghi ngờ tôi, và tôi cũng nghi ngờ tình yêu của nàng.  Đó là những nghi kỵ vô lý, những sợ hãi vô cớ vì bị những người bị giam hãm trong một cuộc tình gian dối.

“Em nghĩ anh không có tình người nữa,” nàng bảo tôi.

“Anh không phải là kẻ phản bội duy nhất.”

“Anh chẳng đoái hoài đến ai cả – nếu như có chuyện gì không hay xảy ra với chúng mình.  Anh chạy trốn tất cả mọi liên hệ tình cảm vì sợ bị ràng buộc, vì không muốn người khác lệ thuộc vào mình, hay mình bị lệ thuộc vào người khác.  Anh sợ cả việc bị đặt cho một cái danh xưng hay gán cho một nhãn hiệu nào đó.  Anh cho đó là điều hay, là đặc tính tốt, nhưng theo em, anh thật là không có tình nghĩa.  Nếu mà em đi rồi thì anh sẽ tìm đến với ai?  Anh có đi tìm người yêu khác không?

Tôi im lặng.

“Chối biến đi chứ, anh lặng thinh như thế là hèn lắm.”

Nàng luôn luôn yêu thích chữ nghĩa, yêu lắm, lớn lên trong chữ nghĩa mà.  Chữ nghĩa làm sáng tỏ vấn đề, đưa ra lý do để giải thích, cụ thể hóa tư tưởng.  Nhưng tôi lại cho rằng chữ nghĩa làm biến dạng tình cảm, như khi chúng ta nhìn thấy phần của cây gậy bị gãy khúc khi bị nhận chìm trong nước.

Nàng quay trở về với chồng.

Từ bây giờ trở về sau, nàng thì thào, chúng ta sẽ tìm thấy linh hồn hoặc sẽ mãi mãi đánh mất linh hồn.

Biển còn có thể bị mang dời đi chỗ khác, tại sao những kẻ yêu nhau không thể bỏ nhau?  Hải cảng của Ephesus , những dòng sông của Heraclitus bị xóa mất rồi được thay thế bằng những nhánh sông cạn đầy bùn.  Vợ của Candaules trở thành vợ của Gyges.  Thư viện bị thiêu hủy.

Chúng ta nên dùng lý do gì để giải thích tình yêu của chúng ta?  Một sự phản bội đối với những người chung quanh hay là niềm ao ước có được một đời sống khác?

Nàng trở vào nhà của nàng, bên cạnh chồng nàng, và tôi trở về tìm vui trong quán rượu.

Ta sẽ nhìn vầng trăng,
Nhưng chỉ thấy bóng nàng.

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


8 bình luận »

  • nguyễn đức tùng viết:

    Một bài điểm sách hay. Tuyệt đẹp . Chỉ tiếc phần trích dịch kém lộng lẫy, như chiếc khăn quàng không phủi bụi.
    Bravo. Thanks, tác giả.

    Nguyễn Đức Tùng.

  • Nguyễn Thị Hải Hà (author) viết:

     
     
    Xin cám ơn lời chỉ giáo của anh. 

  • Gã Sáu viết:

    Hải Hà có lối điểm sách khá độc đáo, thường ít phân tích, phê bình không nặng về kỹ thuật, hay đọc hộ độc giả, viết lại theo lốivăn mượt mà của mình, rồi khơi dậy cảm hứng cho người đọc gần như muốn họ phải tìm đọc tác phẩm cô giới thiệu. Nhà thơ kiêm dich giả khen ‘tuyệt đẹp’ cũng không quá lời. Riêng Gã Sáu  chú ý đoạn cô viết, ‘quyển sách có một số chi tiết ‘không hợp lý’. HH có lý của cô khi nhìn theo cách nhìn của văn học, GS dùng khía cạnh quân sự để cố ‘ghép’ lại sợi tóc đã bị chẻ làm tư.
     
    The English Patient tuy là hư cấu nhưng được tác giả dựa trên bối cảnh và thời điểm có thực của chiến trường Bắc Phi trong thế chiến thứ hai.Ta nhớ lại cuộc chiến một bên là Đồng minh (Anh, Mỹ, Pháp,..), một bên là phe Trục (Đức, Ý, Nhật…).Quân Anh được giao phụ trách mũi Bắc Phi để tìm cách đổ bộ lên  miền Nam nước Ý. Đia điểm có ghi trong sách là Lybia, một thuộc địa của Anh, trong đó có sa mạc Sahara. Đức biết được ý đồ nên cử tướng Rommel (mệnh danh Con Chồn Sa Mạc) đem đạo quân xe tăng cày nát sa mạc, ép quân Anh phải rút về tận Ai cập vào năm 1942. Trong cuộc tháo chạy (kiểu quốc lộ 7 của mình hồi trước), các đơn vị của Anh đã phải bỏ rơi cả thương binh, quân trang quân dụng. Tôi ngờ là cha của Hana nằm trong các đơn vị này, bị bỏ rơi ngoài ý muốn của các tư lệnhchiến trường. Sang cuối năm 1943, quân đồng minh lấy lại thế chủ động, đạo quân Anh chiếm lại vùng Bắc Phi, vượt Địa trung Hải mở một đầu cầu lên miền Nam nước Ý. Các thương binh không thể chuyển về Anh nên được điều trị trong các bệnh viện dã chiến lưu động cùng đi theo cánh quân. Tôi ngờ là Almásy được sống sót trong thời điểm này nên  theo bệnh viện và tiếp tục được chữa trị chờ ngày kết thúc cuộc chiến. HH thắc mắc tại sao ông ta được ưu đãi quá vậy? Đồng ý là Almásy có bị nghi vấn về lý lịch nhân thân, nhưng truờng hợp của ông  không phải là hiếm khi nhiều phi công của Anh đã bị Đức bắn cháy trong sa mạc, bị phỏng, bị ngất, kéo dài hôn mê, bị cứu cấp chậm, bị mất trí nhớ, bị mất thẻ bài (name tag) do đám dân du mục Bedouins trong sa mạc lấy làm chiến lợi phẩm, cũng trong tình trạng ‘phi lý lịch’  như Almásy (câu chuyện có ghi). Khi được chữa trị dù cùng tiêu chuẩn như nhau, nhưng theo truyền thống của quân đội các sĩ quan có tiêu chuẩn phục vụ cao hơn, trường hợp nặng hoặc mất trí nhớ có cả y tá riêng. Lại nữa các phi công của Không Lực Hoàng gia Anh đa phần có gốc gác quí tộc thượng lưu nên Almásy có thể được ưu đãi khi người ta nghĩ ông cũng thuộc trong số này.

    Nay quay sang thắc mắc khi HH nói nhảy dù ra khỏi máy bay sao Almásy còn kịp chụp (grab) cuốn sách Histories, một bảo vật của Almásy (về sau tác giả dùng nó để giải mã khá nhiều tình tiết). Theo tôi hiểu, các phi công khi máy bay bị bốc chấy, theo quán tính, bàn tay họ chỉ kịp kéo khóa  cho dù mở, chứ không còn làm động tác nào khác như lấy đồ trong cockpit. Thường trong áo bay họ hay đựng bản đồ và địa bàn túi bên phải dưới chân, túi trái đựng tài liệu và vật quí phòng thân. Tôi ngờ là cuốn sách để sẵn trong túi này (câu chuyện cũng chỉ ghi là ‘đã mang theo’). Cuốn sách tồn tại do cháy phần trên của thân thể trước, phần dưới chân cháy sau nên hai túi dưới có thể không ảnh hưởng. Vài hàng bàn cho vui xem HH có chấp nhận, xin tùy người viết. Dù sao cũng cám ơn HH cho tôi dịp được đọc lại câu chuyện, một tác phẩm ướt át khó quên. Gã Sáu

  • Nguyễn Quốc Trụ viết:

    Tahar Ben Jelloun
     
    Con Bệnh Anh
     
    Sinh tại Sri Lanka, Michael Ondaatje học tại Anh, hiện định cư tại Toronto, Canada, nơi ông dậy môn văn chương. Tác phẩm của ông nhằm hòa giải những văn phong và những văn hóa, như chúng vẫn thường đối nghịch. Nhà thơ, tiểu thuyết gia, người kể chuyện phương Đông này cũng còn là một nhà văn luôn thử nghiệm những hình thức mới. Thấu thị, và hiện thực, ông sở hữu cùng lúc, khiếu chi ly về cõi riêng thầm và cảm quan sử thi (le gout de l’intimité et le sens épique). Bởi vì ông quan tâm, chỉ bước đi của cuộc đời, và những giả tưởng của ông giống như những căn nhà miền nhiệt đới, với những kiến trúc di động, mặc tình cho gió, không khí, và nước, qua lại.
    (Bệnh nhân Anh đã đoạt giải The Booker năm 1992, được Anthony Minghella đưa lên màn ảnh, và là phim hay nhất trong năm 1996. Lần đầu dịch ra Pháp ngữ với nhan đề Người cháy, L’homme Flambé, nhà xb Olivier, 1993. Bài giới thiệu dưới đây, bằng Pháp ngữ, là từ tủ sách Points, nhà xb Seuil, 1995.
     
    Tahar Ben Jelloun, sinh năm 1944, người Ma-rốc, viết văn bằng tiếng Pháp, tác giả nhiều tiểu luận, tuyển tập thơ, truyện kể, kịch, giải thưởng Goncourt 1987 với cuốn tiểu thuyết Đêm Thiêng, La Nuit Sacrée).
     
    Nguyên lý Ngàn Lẻ Một Đêm là nguyên lý tạo nên văn chương. Ông hoàng khát máu nói với Schéhérazade: “Kể cho ta một câu chuyện, nếu không ta giết mi.” Nỗi hăm dọa của cái chết làm cô gái trẻ đẹp biến thành một người kể chuyện, với một trí tưởng tượng lạ thường. Nguyên lý Con Bệnh Anh có thể là giai đoạn thứ nhì của việc làm văn này, bởi vì bệnh nhân người Anh, toàn thân phỏng cháy, nói với Hana, người đàn bà trẻ đang săn sóc anh: “Đọc cho tôi những cuốn sách, nếu không, tôi chết.” Anh ta chỉ vẽ cho cô, ngay cả tới cách đọc: “Kipling là phải đọc từ từ. Rình mò từng dấu phẩy, và cô sẽ khám phá ra những chỗ lặng tự nhiên. Đây là một nhà văn sử dụng ngòi viết, và mực.”
    Bệnh nhân Anh là một trong những cuốn sách mà người ta không thể không đọc. Với con người kỳ bí, căn cước mù mờ, lửa liếm gần hết mặt, người ta có thể mượn lời Jorge Sumprun,* và nối điêu: Cái đọc, hay là cái sống; văn chương, hay là cái chết. (La lecture ou la vie; la littérature ou la mort). Bởi vì đây là sự sống sót và hồi ức dẫn về hiện tại, một hiện tại độc ác hơn, xấu xa ghê tởm hơn là quá khứ của những bậc tổ tiên, đã chết trong những cuộc chiến Tôn Giáo.
     
    Câu chuyện bịa đặt bởi một nhà văn nhiều gốc gác, giằng buộc: Michael Ondaatje sanh tại Sri Lanka, học tại Anh, và hiện đang giảng dậy tại Toronto. Ông ở trong (dans) rất nhiều văn hóa, không chỉ ở giữa (entre) hai văn hóa. Khi người ta ở giữa, có nghĩa là, chẳng ở đâu. Tuy nhiên, như một số nhà văn không diễn tả bằng tiếng mẹ đẻ của họ, ông là mối nối, là cây cầu giữa hai thực thể. Ông cũng có một quãng cách đủ xa, với căn cước mượn của mình, để nói điều cần nói, để cầm cái gì khẩn cấp phải cầm. Cái nôi, hay là quê nhà của ông không thực sự xuất hiện ở trong cuốn tiểu thuyết. Thì cứ nói rõ ra ở đây: ông đã để cho Kip, anh chàng trẻ tuổi theo đạo Sikh, nói chiều sâu tư tưởng của mình, về những nền văn minh được gọi là giống trắng này; những nền văn minh mà hồ sơ luật pháp đã ngập đầu tại tòa án xét xử các quốc gia. Cõi dã man đâu có đặc quyền riêng một cửa khẩu nào. Nó ở ngay nơi người đàn ông cúi xuống quá khứ thú vật, nơi gợi nhớ gốc gác man rợ của mình.
     
        Bệnh nhân người Anh, do những vết bỏng da, do bộ dạng không còn, đã được đẩy, về trinh nguyên tư tưởng, về trần trụi kỷ niệm. Đọc chầm chậm, tái tạo cuốn sách đã thoát kiếp phần thư, phân biệt đâu là từ Kipling, đâu thuộc về Kinh Thánh, đó là một trong nhiều bổn phận, của cô y tá săn sóc anh ta; cô không rơi từ trên trời xuống như người bệnh của mình, nhưng đến từ tiền-xứ của nhà văn, người kể chúng ta nghe câu chuyện lạ kỳ, và cũng thật giản đơn cảm động.
     
    “Đâu là nền văn minh tiên đoán thời gian và ánh sáng? El-Ahmar hay Al-Abiyađ, bởi vì đây chắc chắn là một trong những bộ lạc của sa mạc tây-bắc,” người đàn ông mặt đắp cỏ, tự hỏi. Một bộ lạc văn minh có thể cứu được người đàn ông ở mấp mé bờ sinh tử. Hãy ngả mũ chào những người Bédouins,1 hay người Touaregs,2 những con người của sa mạc đang quan sát thân thể bị lửa đốt. Nhưng cuốn tiểu thuyết vượt quá những quan tâm liên-văn hóa. Cuốn tiểu thuyết là để đọc từ từ. Phải chú ý đến từng nhân vật, bởi vì câu chuyện cứ từng bước lộ diện. Phải chú ý hơn thế nữa, bởi vì nó được chế tạo, y hệt những trái bom mà anh chàng theo đạo Sikh đến để gỡ bỏ. Sẽ là một màn tứ tấu, bắt được trong bước nhẩy thầm, tại một nơi chốn, một biệt thự bên trên thành phố Florence, được dùng như một bệnh viện tình cờ. Mặt đất nhiều cạm bẫy, cũng như cuốn tiểu thuyết. Người gỡ mìn là một nghệ sĩ. Người đọc phải có tài. Và Michael Ondaatje thì chịu chơi, ông thích những thai đố, những câu chuyện, ông thích chữ viết.
     
    Chúng ta có được ở nơi đây, tụ họp, rất nhiều định mệnh thêu dệt từ những xứ sở khác nhau (Ý, Canada, Ấn-độ, Anh, và chắc chắn rồi, Sahara, sa mạc của những sa mạc) và trên những niên biểu văn chương khác biệt. Những điển cố (Hérodote) được coi như là những cơ duyên (prétexts) để kể tên, những ngọn gió: Aajei, Africo, Arifi, Bis Roz, Ghibi, Haboub, Harmattan, Imbat, Khamsin, Datou, Nafhat, Mezzar-Ifouloussan, Beshabar, Samiel… tất cả là để gợi cho chúng ta, hãy chọn ngọn gió nào sẽ quét sạch văn minh Tây- phương. Bởi vì những cuốn sách, trầm luân; những trang, thiếu hụt; những nhà thờ, những pho tượng, những hồi ức bị chà đạp. Và Kip, chàng gỡ mìn, đã nhắc lại, lời nhắc nhở của người anh em: ‘Đừng bao giờ quay lưng lại, về phía Âu-châu. Những con người này chuyên lo chuyện kinh doanh, khế ước, bản đồ. Đừng bao giờ tin tưởng những người Âu-châu.’ Và những trái bom nguyên tử đã được bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki. ‘Một trái bom, rồi một trái bom nữá.
    Cuốn sách về sự độc ác của những con người, huỷ diệt chỉ vì mê hoặc; sửa sang chỉ vì ích kỷ; những con người chẳng hề áy náy, và họ khám phá ra rằng, sa mạc không chỉ là cát, mà còn là một nơi chốn diệu kỳ ấp ủ một nền văn minh lớn, của những người Bédouins, Touaregs, hay những người xanh.(3) Người bệnh Anh đã mất bộ mặt, và chính sa mạc sẽ cho lại anh ta, kể cả khi cái chết còn đó, kỷ niệm cuộc chiến cận kề thì khốc liệt và sự bí ẩn thì tràn khắp, ở từng nhân vật.
     
    Michael Ondaatje là một người kể chuyện biết rất rõ Tây-phương mà ông ta đang đốt cháy. Cách viết của ông, chính xác; những con chữ, sàng lọc; cấu trúc, đa dạng và xảo diệu; văn phong, nhiều tầng. Lối kể chuyện không đơn tuyến; nó sử dụng, không chỉ thơ mà luôn cả truyền thuyết, ẩn dụ, cũng như huyền thoại. Đây là một người phương Đông đọc rất nhiều về Tây-phương, và đã đang sống tại đó. Ông để cho một người Anh nói, (trong kỷ niệm của Hana): “Tình yêu thì nhỏ bé đến nỗi nó có thể rách bươm, khi chui qua lỗ trôn kim.” Thật đúng là một hình ảnh mà một người Đông-phương có thể viện dẫn ra để tóm gọn, chỉ trong vài từ, quan niệm tình yêu, bằng cách bịa ra một nhân vật kỳ bí, có tên khiến người ta mơ mộng: Zerzura. Ông biến mỗi sinh vật thành một hành tinh, làm xáo trộn, gieo hỗn loạn. Và người đàn bà nói với người đàn ông: “Nếu anh làm tình với em, em sẽ không nói dối. Nếu em làm tình với anh, em sẽ không nói dối.”
     
    Cuốn tiểu thuyết là một lời thú nhận, Michael Ondaatje cho nghe nó. Nhưng chắc chắn, ông ta sẽ không trao cho chúng ta chiếc chìa khóa. Chìa khóa ở trong chúng ta, những độc giả chăm chú, và sững sờ. Cuối cuốn sách, người ta cảm thấy như bị cuốn hút vào “giải im lặng” (nappe du silence) mà Maurice Nadeau đã nói tới; nơi những từ chỉ là vô tích sự, và những sinh vật hiện hữu chỉ vì chúng. Những nhân vật tiếp tục sống, và chết giữa đôi tay của chúng ta. Và người ta tự nhủ, tác giả viết để giũ khỏi cõi tưởng tượng của mình vài vết phỏng, những vết thương cả một dân tộc cưu mang.
     
    Nguyễn Quốc Trụ dịch
     
     
    Chú thích:
     
    (*) Tác giả Văn chương hay Cuộc sống, viết về trại tù Buchenwald, khi ông bị Gestapo bắt vào lúc 21 tuổi – đã là một triết gia và nhà thơ – vì hoạt động trong lực lượng kháng chiến Pháp.
    1 Từ tiếng Ả-rập, badawi, một sắc dân du mục ở sa mạc.
    2 Một sắc dân du mục da trắng ở sa mạc Sahara.
    3 Chắc là chỉ người Pháp.
    NQT
    Note: Để góp thêm một cách đọc

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

    Sáng nay như thường lệ, dậy sớm, vừa uống cà phê vừa đọc báo.  Giật mình thấy bài đọc sách nhận được lời bình, càng giật mình là lời bình hay hơn, sâu sắc và văn vẻ hơn là bài viết.  Thật là hân hạnh được sự chiếu cố của các anh toàn là những cây bút vào bậc tiền bối.  Anh Gã Sáu à, đừng có tưởng dùng cái tên Gã Sáu là người ta không biết anh là ai đâu nhé.  Anh giải thích nghe có lý lắm (nhất là đối với người mù tịt về chuyện lái máy bay và nhảy dù).  Cũng hợp lý chuyện chở bệnh nhân người Anh sang miền Nam nước Ý bởi vì nhìn trên bản đồ miền Nam Ý gần với Phi châu hơn. 
    Cám ơn anh Gấu đã chỉ bảo thêm qua bài dịch.  Tuy có cái rủi là Hà chưa được đọc bài dịch của anh (điểm sách The English Patient của tác giả Tahar Ben Jelloun) nhưng đó cũng là cái may chứ nếu không chắc chẳng dám múa rìu qua mắt thợ.
    Mới hôm trước đã than thở với người bạn là đây là tác phẩm hay mà bài viết của mình không giới thiệu được cái hay của tác phẩm.  Rất khó trích dẫn Ondatjee bởi vì hầu như câu nào cũng hay, đoạn nào cũng hay, trang nào cũng hay.  Câu văn của ông chắt lọc đầy tư tưởng triết lý.  Hạnh phúc của người viết là có người đọc và càng sung sướng hơn khi thấy người bình là các nhà văn lừng lẫy hiểu biết như các anh.    
    Không biết nói gì hơn là “đa tạ” những lời chỉ giáo của các anh (Nguyễn đức Tùng, Gã Sáu, và Nguyễn quốc Trụ).  Làm như chữ cám ơn không đủ long trọng và vì thế không nói hết sự trân trọng của mình.

  • Phạm Thị Thanh viết:

    “Tình yêu như trái phá con tim mù lòa” Nhất lại là tình cấm, amour interdit, phần nhiều đều dẫn đến thảm kịch. Fatal attraction.
    Cám ơn chị Hải Hà đã tóm tắt truyện gọn ghẽ, dễ hiểu. Truyện thì tôi chưa được đọc, nhưng phim thì xem đã trên 10 năm. Đọc bài xong thì lấy phim ra xem lại (tôi có thói mua sưu tập nhạc và phim hay). Xem lại vẫn thấy hay, và nhất là hiểu rõ cốt truyện hơn. Hình ảnh trong phim rất “hoành tráng”. Chỉ tiếc là nhân vật Katharine Clifton do Kristin Scott Thomas đóng lại không đẹp. Nếu để cho Jessica Lange(diễn xuất hay nhưng đã kém đẹp vào thời điểm đó) hay Demi Moore, Kim Basinger đóng thì có lẽ sẽ được thêm một giải Oscar trong số 9 cái đoạt được.
     Phim phơi bày thảm kịch của tình yêu đam mê giữa Almásy và Katharine. Cũng như tình yêu nhẹ nhàng đến rồi đi của Kíp và Hana trong thời chiến. Trong phim tôi chấm hay nhất ở đoạn xảy ra vào ngày 23 tháng chạp năm 1938,  trong khi binh lính và quan khách quây quần ở ngoài sân để ăn mừng Giáng sinh, mọi người cùng hát Silent night, Holly night thì bên trong đôi tình nhân …tội lỗi. Xem mà như đồng lõa với họ, lo sợ cho họ bị bắt gặp. Đâu phải chỉ có đàn ông mới biết “ăn phở”, đàn bà cũng biết “ăn”, mà  lại “ăn” tận tình…

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

     
    Coi bộ hợp rơ với Thanh đó nghe.  So với nhân vật, tôi nghĩ Jessica Lange không đủ feisty, còn Demi More thì lại nhiều đường cong quá.  Katherine Clifton tôi tưởng tượng có nét gầy của Lange và tính tình của Moore.  Tôi xem phim trước và vì thắc mắc liên hệ của Hana với người bệnh, nhất là cái đoạn Hana đút plum cho ông ta thật là gợi cảm nên đọc quyển sách.  Rồi bị cách kể chuyện cũng như lời văn của Ondatjee chinh phục, nhất là ở phần ông vua ngầm đưa kẻ lạ vào phòng để khoe vợ mình đẹp nhất là khi khỏa thân.  Cũng như Goeffrey Clifton, Candaules mất vợ và mất mạng chỉ vì khoe vợ đẹp.

  • Dang dinh Tuy viết:

    Hai vị là đàn bà (có thể) không nhận ra nét đẹp hơi lạnh rất ăng-lê của Kristin Scott Thomas nhưng tôi thấy bà ấy rất tuyệt đặc biệt trong chính cái xen ấy mà (cô/bà) Phạm thị Thanh nhắc đến. Chuyện thay thế, một cách miễn cưỡng, có thể là là Lange chứ không là Moore được.  Bà này dòn nhưng không sâu, theo thiển ý

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)