Chuyện:
1. Chuyện bắt đầu từ một người đàn bà – bà nghè An Lộc. Trong một bữa tiệc do ông nghè chủ xướng gồm toàn những vị tai to mặt lớn của làng tổng, bà nghè bỗng nổi hứng mượn một dòng chảy về tưới nước cho mấy cánh đồng đang có nguy cơ khô hạn gần nhà. Rượu vào ngà ngà cái gì chẳng thể bán được huống hồ chi cái thứ chẳng ai quản được là sông. Mà đây chỉ là khơi thêm con lạch nhỏ. Vậy là bán, ồ không, mượn thì mượn! Lâu dần dòng chảy biến thành sông. Và dòng chính chảy về phía Thi Lai một ngày kia không còn thấy nữa. Ở đó biến thành mấy cái bàu nước đầy tôm cá. Và cái-dòng – sông – mượn nghiễm nhiên tự xác định vị thế của mình. Như một kẻ tạm trú bỗng trở thành chủ hộ! Cũng bên bồi bên lở. Cũng nắng đục mưa trong. Cũng lụt lội trôi nhà trôi cửa dìm chết đến cả người. Đủ thứ nhì nhằng. Bắt đầu từ đó bao nhiêu số phận thao thức cùng với sông. Nếu chuyện trên có thực thì quả thật sông có được nhờ người. Nên không thể có chuyện huyền hoặc. Vậy mà vẫn râm ran chuyện nửa đêm có mấy con rái cá to sụ bỗng dưng nhảy ùm xuống nước nhát người. May mà bây giờ người ta không còn tìm thấy cái loài ma quái ấy nữa. Công cuộc khai mở cái sự văn mình đã làm quá những gì con người mơ ước! Rồi chuyện cha tôi quần trắng áo trắng mũ trắng nửa đêm lội sông về ma cũng theo về cùng. Vừa thay áo quần ngả lưng trên phản giữa nhà cái lũ đầu trâu mặt ngựa đã thi nhau lội ầm ầm từ đầu đến cuối cây đòn đông chính giữa nhà. Rồi từ phía kia lội ngược lại. Cha tôi chửi thề rồi lẳng lặng xuống bếp lấy cây rựa mở cửa bước ra sân chém xuống đất. Để nguyên cây rựa giữa sân ông vào đắp chiếu ngủ. Tình hình có vẻ yên. “Cũng biết sợ hả?”, Cha tôi cười thầm trong đêm tối. Nhưng cũng chỉ yên được một lúc. Cái đám kia lại tiếp tục khủng bố. Lần này thì bắt đầu từ phía nhà bếp. Chúng dận chân ầm ầm khiến căn nhà muốn sụm xuống. Cha tôi bắt đầu sợ, miệng niệm Án ba ni bát nhi hồng liên tục. Nhưng hễ hết niệm chú thì chúng lại quậy. Lại cầu cứu đến cả kinh. Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh. Quán tự tại Bồ tát… Cũng chả ăn thua gì. Cha bèn đánh thức mẹ tôi dậy. Bà có nghe thấy gì không? Mẹ tôi ú ớ bảo chẳng nghe thấy gì rồi tiếp tục ngủ. Ông thở dài, lên bàn thờ thắp hương. Lần này thì hương đèn không làm chúng sợ nữa. Căn nhà quăng quật như trong cơn bão dữ… Đến sáng thì tóc cha tôi bạc trắng. Giữa trưa cha tôi áo dài khăn đóng quần đùi guốc gỗ lội trên đất cục đi từ đầu đến cuối đồng rồi lộn trở lại. Mẹ tôi đầu bù tóc rối nước mắt ngắn dài sấp ngửa chạy theo sau. Ông bảo để ông tìm cho ra cái quân phá làng phá xóm! Cả làng nhốn nháo như bị Tây càn. Ngày hôm sau ông nội tôi phải đưa cha tôi vào chùa. Ăn chay niệm Phật mất cả tháng trời cha tôi mới bớt bịnh. Hồi ấy tôi mới hai tuổi nên có thể mọi chuyện sai lệch đi chút ít. Nhưng có người bảo rằng cha tôi giả đò điên để khỏi tham gia chuyện làng xã. Hỏi, ông chỉ cười cười bảo mi con nít biết chi mà xen dô chuyện người lớn. Nên, thôi không kể nữa…
Lên bốn tuổi, cả nhà ở hết ngoài đồng, tôi phải cắp nách đứa em gái nhỏ xíu ngày mấy lần lên cơn động kinh. Tụi trẻ con cả xóm thường tập trung lên bãi cát đầu xóm bày đủ trò. Để có thể tham gia cùng đám bạn tôi nảy ra sáng kiến chôn chân con bé đến sát đầu gối. Kiểu này thì con bé chỉ còn nước ngồi một chỗ vọc cát thôi! Còn tôi tha hồ nhởi! Ở bãi cát hễ đến mùa những người lạ hoắc lại lên phơi lát. Nghe nói họ ở đâu phía dưới cửa Đại Chiếm Đại Chiêm gì đó tôi không biết nữa. Cùng lên với họ có mấy chiếc ghe đãi sạn có mui che. Ghe của mấy người phơi lát có vẻ rách nát hơn nhưng cũng đủ chứa tất thảy vợ chồng con cái. Những đứa trẻ da đen sạm. Ở truồng nồng nỗng phơi cả chim cả bướm! Tôi còn nhớ bữa ấy nắng rát da mặt. Bãi cát chấp chóa nhìn chẳng rõ mặt người. Giữa cái nắng chúng tôi vẫn cứ nhắm mắt tiếp tục cái trò chơi u mọi vốn rất quyến rũ của mình. Bỗng nhiên, một thằng nhỏ trạc tuổi tôi xuất hiện. Hắn mặc quần trắng áo trắng đội mũ trắng khiến cho cái nắng càng thêm chói gắt. Tôi bỏ dở trò chơi đứng thõng tay nhìn nó không chớp mắt. Có vẻ như nó không đến từ mấy chiếc ghe đãi sạn hoặc phơi lát. Hình như hắn xuất hiện từ giữa dòng sông. Và tôi bắt đầu run cứ đứng chôn chân tại chỗ chẳng biết phải làm gì. Thằng nhỏ chân lò cò nhảy từ đầu đến cuối bãi miệng kêu “chát chát” không ngớt. Rồi bắt đầu từ phía biển nó lò cò lên. Người nó dài ra rồi ngắn lại, hết ngắn lại dài ra như sợi dây thun. Tôi há miệng nhìn theo cái hình dáng quái dị ấy không chớp mắt. Cuối cùng, nó biến thành con chó trắng và biến mất. Như là chui hẳn vào cát.
Đó là hình ảnh ám ảnh nhất của tuổi thơ tôi, cứ trở đi trở lại mãi, không hiểu vì sao? Không thể là chuyện không có thật vì cùng chơi với tôi ngày ấy còn có chú Út của tôi. Ông vẫn còn và nhớ như in, vẫn thường hay nhắc lại trong những dịp nhà có giỗ quảy. Hình ảnh ấy chạm vào trí não tôi rất nét, nhiều lúc có cảm giác vừa diễn ra trước mắt. Hay là đó là tuổi thơ bồng bềnh và cả tin của tôi? ( Nếu dừng ở đây, nhờ bạn đốt và thả trôi sông)
2. Cái con sông nhỏ bé kể trên kia chỉ là một nhánh nhỏ đổ vào Thu Bồn. Sách “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn ghi: “Dinh trấn đầu tiên đóng ở Cần Húc, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam”. Bây giờ, Duy Xuyên ở phía nam còn Điện Bàn lại ở phía bờ bắc của sông. Dinh trấn Quảng Nam triều Nguyễn ở phía ấy – bờ bắc Thu Bồn. Ở đó vẫn còn nhiều dấu tích của thành quách, văn thánh, văn chỉ của một kiểu kinh thành bên dòng sông Chợ Củi (tên đoạn sông Thu Bồn chảy ngang qua Thanh Chiêm).
Còn ở bờ nam, phía Duy Xuyên chẳng còn dấu tích gì. Chỉ như một vùng đất mới mở. Ngoài trừ cái địa danh chợ Gò Mỏ Neo hay Mả Neo gì đó. Hoặc trên kia, mộ của cô gái hái dâu họ Đoàn sau được vời về phủ Chúa khi chết được phong hoàng hậu. Hay là chính giữa dòng sông này, nơi chúng tôi đang ngồi? Giữa sông nước. Giữa đất và trời. Giữa thịt bê thui và bia rượu ê hề? Ừ, thì sông cứ chảy, đời người cứ trôi, các triều đại, các thân phận… cứ trôi. Cứ nhắm mắt mà trôi đi không như con bò cái mới được kéo vào kia đã kịp nhận ra “hơi hướm cái chết” mà nước mắt ròng ròng không dám bước vào lò mổ phía sau quán, cứ bíu lấy đất?
Tôi cùng với một gã điên thơ một thằng sát gái một gã men làm đã ngồi uống một bữa ra trò ở đấy. Khi đã vào đến cữ cả bọn ngật ngừ ngồi nghe gã điên thơ gõ chén rổn rảng đọc:
Đem một khúc sông đi rồi chẳng đem về
ký ức ở trần bỏ quên mất áo
lau bói đã xanh tràn biền bãi…
chòng chành tuổi tác cập vào đâu?
Hôm sớm tuồng như sầm sập qua cầu
bóng đò khuất bảy đời dương còn neo tiếng ới
thương nhớ chóng bồ bồ chỗ đợi
đời người vuốt mặt đời sông…
Ngày xế khòm lưng khẳm nỗi sào không
mớn cũ nương nhau chống chèo mấp mé
tôi từng dịp trăng về không thấy bạn
sắp mụt măng còng roi quất chẳng buồn đi…
Tưởng nghinh ngang thiên hạ hải hồ
ngửa mặt phơi cùng chín phương nắng gió
về đây bụm một sắc trời xanh ngợp người quá kể
sóng không hình đứng cạn mà…say*
Gã men làm gào theo chấp chới: Về quê thắp một lòng hương khói/ một đời áo giấy đốt cho sông… Bỗng dưng nghe cứ muốn khóc. Rồi cuộc hội ngộ nửa chừng nghẹn ứ trước cặp mặt van lơn của con bò cái vừa bị tay dắt bò thuê kéo đến ấy. Ơi trời, một kiểu bò cái rất giống với loại đàn bà đa tình, đa dâm gọi đâu đi đó. Con bò cái chết đi có khi đầu thai làm đàn bà cũng nên. Mà cũng không biết nữa. Tất thảy như muốn mượn lấy sông mà nói một điều gì đó. Có điều mơ mơ hồ hồ còn chưa rõ, có điều chưa thấy nhưng đã cảm được ít nhiều.
Lại nghe:
Tiếng người gọi nhau ơi ới trên sông.
Tiếng đất lở ngay sát sau lưng tôi.
Và, tiếng bò rống phía lò mổ trong đêm rợn vắng…
Tất cả khiến không thể không tự hỏi thầm, rằng chúng tôi, những người đàn bà ngồi bàn cùng với chúng tôi, cả con bò cái nữa, có ai từ dưới sông kia bước lên?? (Nếu dừng ở đây lại nhờ bạn đốt và thả trôi sông)
3. Một thằng nhỏ nhảy cắm đầu xuống sông từ độ cao ba bốn mươi mét của nhịp cầu mới từ con đường tránh, cứ thế phóng xuống, không vướng gì. Nghe nói rằng có một làng ở đâu phía trong kia nhiều người ưa ra đây nhảy sông tự tử thì phải. Nếu quả thật thì sợ thật, điên thật. Chẳng biết thằng bé trôi dạt về đâu mà chẳng tìm thấy xác. Sau nhiều tháng điều tra qua khá nhiều nhân chứng người ta mới đi đến kết luận rằng thằng bé không đâm đầu xuống nước mà đâm đầu xuống cát, đúng cái đoạn có mấy lò bê thui nổi tiếng cả nước nằm chính giữa sông vừa đề cập ở đoạn trước. Nó cắm đầu xuống cát và biến mất. Giống hệt như quả nhân sâm bị Tề Thiên đập rụng xuống đất và biến mất trong truyện Tây du ký. Người ta đổ xô đi tìm nhiều ngày vẫn không thấy. Cầu cứu đến cả bà Bích Hằng ngoại cảm vẫn không thấy. Hỏi rằng hắn có kêu réo trăn trối hay để lại lá thư tuyệt mệnh nào không, nhiều người lắc đầu rằng không, tịnh không thấy gì. Cứ như nhảy dù ấy. Hay định đi đâu vậy? Là hắn đã đi đầu thai?
Lại nghe nói rằng đêm ấy giữa cái cồn Lài phía hạ lưu có một người đàn bà đơn thân vừa mới trở dạ. Hỏi, lúc ấy mấy giờ? Hả, mấy giờ nhỉ? Một người nào đó đáp chắc nịch: nhằm đúng hai mươi giờ không bảy phút ngày hai mươi tháng bảy năm hai ngàn lẻ bảy. Răng kỳ rứa? -ai đó buột miệng. Kỳ là kỳ răng? Thì đúng y nguy lúc phát hành bộ Harry Potter tập cuối trên toàn thế giới! Ừ, thế thì hắn đi đầu thai thiệt rồi! Đầu thai để làm một nhân vật mới, chắc là khác thằng Potter!
Mà liệu có khác với thằng Potter? (Nếu dừng ở đây nhờ bạn đốt và thả trôi sông)
Có thể có hai cái kết cho câu truyện này:
Kết 1. Liệu có liên hệ gì qua ba câu chuyện trên?
Kết 2. Nguyễn Đức Dũng đọc rồi bảo truyện này có được nhờ bài thơ của Dũng. Rồi cười rất đểu ( Nếu bạn đọc không vừa ý thì đọc tiếp vậy )
Kết khác: Hắn ngồi trầm ngâm, nhìn xuống lòng sông đen thẩm. “Hết rồi à?” Chẳng thấy hắn trả lời. Tôi thì biết đó chỉ là vài ba câu chuyện cỏn con từ bộ sưu tập những truyền thuyết về sông cả cũ lẫn mới hắn đang làm. Nhưng còn một chuyện hắn chưa hề kể với ai.
… Đó thực sự là một trận đại hồng thủy. Dữ dội như muốn phá tanh bành hết thảy để sắp xếp lại trật tự đất trời. Núi đổ ụp xuống sông. Và sông nhấn chìm núi xuống dòng chảy ngầu đục. Làng mạc nhà cửa cây cối ruộng vườn như những chiếc lá tre quăng quật trong cơn lũ dữ. Tất cả bùng bục như đang sôi trong lò bát quái. Như một cuộc chuyển mình thưở khai thiên lập địa. Như thời khắc chưa hề xuất hiện loài người. Mà cũng chẳng thấy tăm hơi loài người ở đâu trong cơn hỗn mang dữ dội kia. Chẳng hề thấy một con người!
Nước từ sông chảy ép làng mạc vào hai triền núi. Khi căn nhà nhỏ bé bùng lên, quăng quật mấy vòng rồi cuốn theo dòng nước hung hãn thì hai vợ chồng người lái đò vừa kịp bám vào mấy ngọn tre. Mỗi người hai đứa con, đứa trên lưng, đứa trong tay. Họ ngút thở ngụp lặn giữa cơn giận dữ của dất trời. Người chồng lấy hết sức gào to:” Bám lấy…tre. Bám…lấy…” Tiếng gào lọt thỏm giữa sóng nước. Lão nghiến răng trợn mắt nhìn. Ba mẹ con thoắt biến thoắt hiện giữa dòng lũ. Vừa thấy đó đã mất hút. Tim lão thót lại. Cả một đời gắn bó cùng sông nước chưa bao giờ lão cảm thấy bất lực như lúc này. Gần một đời trụ cùng sông chính lão đã ra tay cứu biết bao người. Hay đây là thời khắc Thủy thần đòi mạng? Đến lần xuất hiện thứ mười thì đứa con trên lưng vợ lão biến mất. Máu bắt đầu rỉ ra từ khóe mắt lão mằn mặn. Và lão hiểu tấn bi kịch mới chỉ bắt đầu. “ Nổi đi!..Nổi lên…đi!” Mắt lão nhìn như gắn về chỗ hai mẹ con vừa bị nước dìm xuống. Cuối cùng rồi ngọn tre ấy cũng biến mất. “ Ông à, tôi đi đây”. Lão nghe thì thầm tiếng vợ. Rồi lão chợt thấy mình lả đi. Hai tay đớ đơ không biết đang bám vào đâu nữa. “Lạnh quá cha ơi!”, tiếng thằng bé run rấy trên lưng lão. “ Cố…”. Tiếng lão lập bập. “ Con…đu..ố..i r..ồ..i”. Con thứ hai tiếp tục chảy máu.” Không được thả… tay”. “ Ch…a ..ơ..i “ Lão bỗng rùng mình khi thoảng nghĩ đến chuyện phải bỏ bớt một đứa để cứu đứa kia. Trời ơi, biết bỏ đứa nào? Xung quanh ông bỗng rùng rùng những tiếng cười khèn khẹt ma quái của lũ quỷ dữ. “Bỏ hết đi! Bỏ hết đi!” nước ụp vào miệng lão đắng chát. “Không được chết! Không được chết!” Lão tự nhủ lòng một cách vô vọng. Bây giờ thì hai chân lão bắt đầu đuối, chẳng cựa quậy được nữa. Rồi tay lão cũng cóng dần. “Bỏ đi! Bỏ đi!” Tiếng quát dội âm âm khiến ngực lão muốn vỡ tung lên. Trời đất ơi, bỏ đứa nào đây?” Máu trong người lão cơ chừng đã trào hết ra khóe mắt. Người cứ lạnh dần, lạnh dần, lạnh dần. Gan ruột lão bỗng cuộn lên, sôi ùng ục rồi một thứ nước đắng chát trào ra miệng lão. Người lão lúc này cơ chừng đã cạn hết máu, có cảm giác như đang khô dần, khô dần và bắt đầu nổi lên như chiếc phao. Lão chẳng thể nào điều khiển hai chân mình nữa!
“Thả đi!”
“Thả tay ra đi!”
Rùng rùng những tiếng khèn khẹt những tiếng rú rít quái dị.
Lại thêm mấy bụm nước đắng chát ục lên từ bụng lão, trào ra miệng.
Lão nghiến răng…
Tạm kết: Thảo nào hắn cứ bảo sẽ một đời áo giấy đốt cho sông.
( Nếu chưa vừa ý thì bạn đọc có thể kể tiếp, xong cứ đốt thả theo sông )
______________________________________________
* Thơ Nguyễn Đức Dũng